Kính gửi Thủ tướng chính phủ : : Đề nghị nghiên cứu xây dựng Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu theo tinh thần nghị quyết 57
T
TRƯƠNG NAM THUẬN
Ngày 27/05/2026, 15:45
THƯ KIẾN NGHỊ
V/v: Đề nghị nghiên cứu xây dựng Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Đồng kính gửi:
Văn phòng Chính phủ;
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương;
Bộ Xây dựng;
Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Bộ Y tế.
Kính thưa Thủ tướng,
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng diễn biến phức tạp, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới của rủi ro khí hậu, nơi các hiện tượng cực đoan không còn mang tính bất thường ngắn hạn mà đang dần trở thành trạng thái khí hậu mới với tần suất dày hơn, cường độ lớn hơn và mức độ ảnh hưởng sâu rộng hơn đến đời sống kinh tế – xã hội. Trong số đó, nắng nóng cực đoan kéo dài tại các đô thị lớn đang nổi lên như một thách thức nghiêm trọng nhưng chưa được nhận diện đầy đủ ở cấp độ chiến lược quốc gia.
Những năm gần đây, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cùng nhiều đô thị lớn và khu vực miền Trung thường xuyên ghi nhận các đợt nắng nóng gay gắt kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng liên tục, đi kèm nền nhiệt cao kéo dài cả ban ngày lẫn ban đêm, làm gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị, suy giảm chất lượng sống và tạo áp lực lớn lên sức khỏe cộng đồng, hệ thống điện năng, hạ tầng đô thị và năng suất lao động.
Khác với bão, lũ hay hạn hán vốn tạo ra thiệt hại hữu hình và dễ nhận diện, nắng nóng cực đoan là dạng rủi ro khí hậu có tính bào mòn liên tục. Thiệt hại không diễn ra tức thời mà âm thầm tích tụ thông qua suy giảm sức khỏe, gia tăng bệnh lý liên quan nhiệt, giảm hiệu quả lao động, tăng chi phí điện năng, tăng áp lực y tế, xuống cấp công trình và giảm tính hấp dẫn của môi trường sống đô thị. Đây thực chất là một dạng “chi phí khí hậu vô hình” đang ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc gia.
Theo các nghiên cứu và cảnh báo quốc tế, biến đổi khí hậu hiện không còn chỉ là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề phát triển và sức khỏe. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhiều lần nhấn mạnh nhiệt cực đoan là một trong những nguyên nhân gây tử vong liên quan thời tiết nghiêm trọng nhất toàn cầu, đồng thời làm gia tăng đáng kể các nguy cơ tim mạch, hô hấp, thần kinh, đột quỵ, bệnh thận, sức khỏe tinh thần và suy giảm chất lượng sống. Trong bối cảnh Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu, những rủi ro này cần được nhìn nhận như một thách thức chiến lược lâu dài.
Đặc biệt, các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội hiện là những trung tâm kinh tế có tỷ trọng đóng góp rất lớn vào tăng trưởng quốc gia, nơi tập trung đông dân cư, hệ thống logistics, dịch vụ, công nghiệp, giáo dục, y tế và các hoạt động lao động cường độ cao. Khi các đô thị này phải vận hành trong điều kiện nhiệt cực đoan kéo dài, tổn thất không chỉ là vấn đề địa phương mà có nguy cơ trở thành rủi ro ảnh hưởng đến tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc gia.
Từ góc độ thực tiễn, nắng nóng cực đoan hiện đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều nhóm dân cư dễ bị tổn thương, đặc biệt là người cao tuổi, trẻ em, người có bệnh nền, người thu nhập thấp sống trong điều kiện nhà ở hấp nhiệt, công nhân lao động ngoài trời, người lao động phi chính thức, tài xế công nghệ, công nhân xây dựng, vệ sinh môi trường và các lực lượng duy trì vận hành đô thị.
Đồng thời, hiện tượng này cũng làm gia tăng đáng kể áp lực lên hệ thống điện quốc gia do nhu cầu làm mát tăng mạnh; làm giảm hiệu suất học tập, làm việc; ảnh hưởng đến năng suất lao động ngoài trời; gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe; đẩy nhanh quá trình xuống cấp hạ tầng và tạo thêm áp lực ngân sách cho các địa phương.
Kính thưa Thủ tướng,
Việt Nam hiện đã có nền tảng pháp lý tương đối đầy đủ về biến đổi khí hậu thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050; Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu; Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024; cùng nhiều nghị quyết, chiến lược về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và đô thị thích ứng.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy Việt Nam hiện vẫn chưa có một chiến lược chuyên sâu ở cấp quốc gia nhằm quản trị rủi ro nhiệt cực đoan, thích ứng nắng nóng kéo dài và làm mát đô thị một cách có hệ thống. Các giải pháp hiện nay vẫn chủ yếu mang tính phân tán, cục bộ hoặc phản ứng tình huống, chưa hình thành một cơ chế điều phối liên ngành dài hạn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, duy trì năng suất lao động và nâng cao khả năng chống chịu của đô thị trong điều kiện khí hậu mới.
Trên tinh thần đó, chúng tôi kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu, với trọng tâm trước mắt tập trung vào các đô thị đặc biệt, đô thị loại I, các thành phố trọng điểm quốc gia và khu vực công nghiệp – logistics mật độ cao.
Chiến lược này cần được xác định là một chiến lược liên ngành, lâu dài và có tính nền tảng, không chỉ nhằm chống nắng nóng đơn thuần, mà hướng đến mục tiêu bảo vệ năng lực vận hành của nền kinh tế đô thị, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo đảm chất lượng sống của người dân, giảm thiểu tổn thất kinh tế và tăng khả năng chống chịu quốc gia trước trạng thái khí hậu mới.
Đặc biệt, chúng tôi kiến nghị việc xây dựng chiến lược cần lồng ghép mạnh mẽ tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh nhiệt cực đoan ngày càng phức tạp, việc ứng phó không thể chỉ dựa trên phương pháp quản lý truyền thống mà cần chuyển sang mô hình quản trị đô thị thông minh, dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, chiến lược có thể nghiên cứu xây dựng hệ thống bản đồ nhiệt đô thị quốc gia dựa trên dữ liệu vệ tinh, GIS, IoT và trí tuệ nhân tạo nhằm nhận diện các vùng đảo nhiệt, khu vực dễ tổn thương và xu hướng biến động nhiệt theo thời gian thực; xây dựng nền tảng cảnh báo sức khỏe do nhiệt cho người dân; phát triển hệ thống điều hành đô thị thích ứng khí hậu; thúc đẩy nghiên cứu vật liệu xây dựng giảm hấp thụ nhiệt, giải pháp làm mát thụ động, công nghệ tiết kiệm năng lượng và các mô hình hạ tầng xanh – xanh lam phục vụ điều hòa vi khí hậu.
Đồng thời, cần xem đây là cơ hội thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, tạo động lực cho các doanh nghiệp khoa học công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đô thị tham gia phát triển các giải pháp làm mát đô thị, năng lượng sạch, quản trị nhiệt và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Chúng tôi cũng kiến nghị nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số quốc gia về chống chịu nhiệt đô thị, làm cơ sở đo lường hiệu quả thực thi chính sách thông qua các tiêu chí cụ thể như: giảm nhiệt độ bề mặt đô thị; giảm tỷ lệ nhập viện liên quan nhiệt; giảm tổn thất năng suất lao động; giảm áp lực tiêu thụ điện giờ cao điểm; tăng diện tích bóng mát công cộng; nâng cao khả năng tiếp cận không gian trú nóng và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Để bảo đảm tính liên ngành và khả năng thực thi, kính đề nghị Thủ tướng xem xét giao nghiên cứu ở cấp Chính phủ với cơ chế phối hợp liên ngành, trong đó có thể giao Bộ Xây dựng làm cơ quan thường trực kỹ thuật về quy hoạch, nhà ở, hạ tầng và phát triển đô thị; phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, các địa phương trọng điểm và các đơn vị nghiên cứu chuyên sâu.
Kính thưa Thủ tướng,
Nếu chống ngập giúp bảo vệ đô thị trước rủi ro nước, thì chống nóng chính là bảo vệ đô thị trước trạng thái khí hậu mới của thế kỷ XXI. Đây không chỉ là vấn đề môi trường, mà là vấn đề kinh tế, sức khỏe, an sinh xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc chủ động nghiên cứu và xây dựng chiến lược ngay từ bây giờ sẽ giúp Việt Nam giảm thiểu tổn thất lâu dài, chuyển từ trạng thái ứng phó bị động sang thích ứng chủ động, đồng thời cụ thể hóa các mục tiêu phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và tinh thần đổi mới sáng tạo của Nghị quyết 57-NQ/TW.
Kính mong Thủ tướng Chính phủ xem xét, quan tâm và chỉ đạo nghiên cứu nội dung nêu trên.
Xin trân trọng cảm ơn.
Tài liệu kèm theo
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời
- Hiện nay, hệ thống chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu cơ bản đã được hoàn thiện. Mặc dù chưa có quy định riêng về thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị, các hoạt động này đã được điều chỉnh thông qua các quy định của pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu và được lồng ghép trong các chiến lược, kế hoạch quốc gia có liên quan, cụ thể như sau:
+ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định xây dựng, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu (khoản 10 Điều 166); đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, khu vực và cộng đồng dân cư trên cơ sở kịch bản biến đổi khí hậu và dự báo phát triển kinh tế - xã hội; triển khai các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và dựa vào hệ sinh thái (khoản 2 Điều 90); quy định việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp, bao gồm việc áp dụng các biện pháp làm mát bền vững, công nghệ, quy trình sản xuất và dịch vụ ít phát thải (Điều 91). Đây là cơ sở pháp lý để triển khai các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị.
+ Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và Nghị định 83/2026/NĐ-CP đã thể chế hóa thuật ngữ “làm mát bền vững”, đồng thời quy định các cơ chế khuyến khích nhằm thúc đẩy áp dụng các giải pháp làm mát bền vững tại Việt Nam.
+ Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07/01/2022 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 08/2025/TT-BNNMT hướng dẫn đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội, là cơ sở đề xuất các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan.
+ Thông tư số 06/2023/TT-BTNMT ngày 31/7/2023 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) hướng dẫn lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, là căn cứ để lồng ghép giải pháp thích ứng với nắng nóng, đảo nhiệt và giải pháp làm mát đô thị vào chiến lược, quy hoạch có liên quan.
+ Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022) và Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật) (Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024) đã xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm có liên quan tới ứng phó với nắng nóng cực đoan và nhiệt đô thị, gồm: (i) Phát triển đô thị, hạ tầng đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng dụng các giải pháp làm mát bền vững, vật liệu mới có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực xây dựng và đô thị; Xây dựng công trình, nhà ở chống nắng nóng, sử dụng các giải pháp làm mát xanh, dựa vào tự nhiên để giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, sử dụng vật liệu ít phát thải khí nhà kính, vật liệu tái chế; (ii) Triển khai các giải pháp tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai và các điều kiện khí hậu, thời tiết cực đoan; thực hiện các giải pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai, giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu, sẵn sàng ứng phó với thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng; (iii) Tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân, đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương tại các vùng thường xuyên chịu tác động của khí hậu cực đoan và thiên tai.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương để Việt Nam tham gia “Cam kết Làm mát Toàn cầu” năm 2023, hướng tới mục tiêu cùng các quốc gia trên thế giới giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động làm mát ít nhất 68% vào năm 2050 so với 2022; tại Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát (Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024) đã đưa ra mục tiêu cụ thể về làm mát bền vững: (i) Các yêu cầu về giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và chống chịu với nắng nóng cực đoan được nghiên cứu, lồng ghép trong các chương trình phát triển đô thị cấp quốc gia, cấp tỉnh, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia và từng địa phương, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan của tỉnh; (ii) Các công trình xây dựng mới đạt chứng nhận công trình xanh, công trình hiệu quả năng lượng trong thiết kế, xây dựng và vận hành; tòa nhà xây dựng mới đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng đáp ứng mức cân bằng về năng lượng (NZEB); tăng diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị; (iii) Phổ biến và nhân rộng các mô hình về làm mát bền vững, mô hình kinh doanh dịch vụ làm mát tại các khu đô thị, khu dân cư, tòa nhà văn phòng, thương mại và công trình công cộng. Đồng thời, kế hoạch cũng đưa ra lộ trình, các nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm trong triển khai thực hiện các giải pháp làm mát bền vững tại Việt Nam đến năm 2045. Trong đó, Kế hoạch đã đưa ra các nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện trong giai đoạn đến năm 2030 có liên quan đến làm mát bền vững như: nghiên cứu, xây dựng và ban hành hướng dẫn lồng ghép giải pháp làm mát bền vững trong quy hoạch đô thị và xây dựng công trình; nghiên cứu, xây dựng, cập nhật các văn bản, hướng dẫn kỹ thuật để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giảm phát thải các-bon, từng bước đáp ứng tiêu chí chứng nhận công trình xanh trong thiết kế, xây dựng và vận hành đối với các công trình xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp; nghiên cứu, xây dựng quy định về định mức sử dụng năng lượng cho các loại hình tòa nhà xây dựng mới.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Kịch bản biến đổi khí hậu (phiên bản cập nhật năm 2025), trong đó dự kiến cập nhật các kịch bản chi tiết về cực đoan nhiệt độ và đảo nhiệt đô thị đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi được ban hành, đây sẽ là cơ sở khoa học phục vụ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng, đề xuất các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu. Các giải pháp cụ thể về quy hoạch và phát triển đô thị, tiêu chuẩn kỹ thuật công trình, bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động, năng lượng và phát triển hạ tầng thuộc phạm vi quản lý của các bộ, ngành và địa phương theo lĩnh vực được phân công. Vì vậy, việc triển khai các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị cần được thực hiện theo cơ chế phối hợp liên ngành, bảo đảm thống nhất trong xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện, đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan.
Đối với kiến nghị xây dựng Chiến lược quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị: Hiện nay, các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về thích ứng với nắng nóng cực đoan, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và thúc đẩy làm mát bền vững đã được lồng ghép trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật) và Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát, vì vậy, cần ưu tiên tổ chức triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã được phê duyệt. Việc xây dựng một Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị tại thời điểm hiện nay có thể dẫn đến chồng chéo, trùng lặp với các văn bản đã được ban hành.
Phản hồi của cá nhân / tổ chức gửi
T
TRƯƠNG NAM THUẬN
Ngày 18/08/2026, 16:34
**CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM**
**Độc lập - Tự do - Hạnh phúc**
**V/v phản hồi nội dung trả lời kiến nghị số 12 về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị**
**Kính gửi: Bộ Nông nghiệp và Môi trường**
Tôi trân trọng cảm ơn Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biến đổi khí hậu đã nghiên cứu, phối hợp trả lời kiến nghị số 12 của tôi về việc nghiên cứu xây dựng Chiến lược quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Nội dung trả lời của Cục Biến đổi khí hậu đã cung cấp tương đối đầy đủ hệ thống chính sách, pháp luật, chiến lược và kế hoạch hiện hành liên quan đến vấn đề này, trong đó có Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các nghị định, thông tư về ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu và các mục tiêu về làm mát bền vững.
Tôi đồng tình với nhận định của Cục Biến đổi khí hậu rằng việc xây dựng thêm một chiến lược riêng cần được cân nhắc để tránh chồng chéo, trùng lặp với các chiến lược và kế hoạch đã được ban hành. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu kỹ nội dung trả lời, tôi cho rằng vấn đề đặt ra trong kiến nghị ban đầu không chỉ là thiếu một văn bản chiến lược riêng về nắng nóng cực đoan. Vấn đề sâu hơn là **khoảng cách giữa hệ thống chính sách hiện có với khả năng tạo ra tác động cụ thể trong đời sống thực tế**.
Nói cách khác, tôi không cho rằng Việt Nam hiện nay thiếu dữ liệu, thiếu nhận diện rủi ro hoặc thiếu định hướng chính sách về biến đổi khí hậu. Ngược lại, hệ thống văn bản đã tương đối phong phú và ngày càng hoàn thiện. Chính nội dung trả lời của Cục đã chứng minh điều đó: các vấn đề về nắng nóng cực đoan, đảo nhiệt đô thị, làm mát bền vững, công trình chống nóng, cây xanh, công trình xanh, hiệu quả năng lượng, cảnh báo sớm, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương và giảm thiểu tổn thất đã được đề cập trong nhiều văn bản khác nhau.
Tuy nhiên, **có chính sách về một vấn đề không đồng nghĩa với việc vấn đề đó đã được giải quyết**.
Đây là điểm tôi kính đề nghị Bộ xem xét lại từ góc độ quản trị chính sách.
Hiện nay, cách tiếp cận chủ yếu đối với biến đổi khí hậu vẫn thiên về việc xây dựng kịch bản, đánh giá tác động, xác định tính dễ bị tổn thương, xây dựng chiến lược, kế hoạch, lồng ghép vào quy hoạch và phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan. Đây là những thành phần cần thiết của một hệ thống quản lý nhà nước. Tuy nhiên, chúng chưa đủ để bảo đảm rằng một tác hại cụ thể xảy ra trong đời sống sẽ có một chủ thể cụ thể phải hành động để xử lý tác hại đó.
Ví dụ, nắng nóng cực đoan về bản chất không phải là một vấn đề hành chính. Nó là một tác động vật lý và xã hội trực tiếp lên con người, không gian sống và hoạt động kinh tế. Nó có thể làm tăng nguy cơ đối với sức khỏe người già, trẻ em và người lao động ngoài trời; làm giảm năng suất lao động; làm tăng nhu cầu sử dụng điện và chi phí làm mát; làm suy giảm chất lượng nhà ở; làm cho không gian công cộng trở nên khó sử dụng; làm gia tăng chênh lệch giữa những nhóm dân cư có khả năng tiếp cận điều kiện làm mát khác nhau.
Tương tự, đảo nhiệt đô thị không chỉ là một nội dung cần “lồng ghép vào quy hoạch”. Đó là một hiện tượng có thể xác định trên từng khu vực, từng tuyến phố, từng khu dân cư và từng nhóm đối tượng. Khi một khu vực đô thị nóng hơn đáng kể so với khu vực xung quanh, câu hỏi quản trị không chỉ là “đã đưa nội dung biến đổi khí hậu vào quy hoạch hay chưa”, mà phải là: **mức nhiệt đó đã gây ra tác hại gì, đối với ai, ở mức nào, và chủ thể nào có trách nhiệm làm giảm tác hại đó?**
Theo tôi, đây chính là khoảng trống quan trọng hiện nay.
Cục Biến đổi khí hậu trong văn bản trả lời cũng xác định rằng các giải pháp cụ thể về quy hoạch và phát triển đô thị, tiêu chuẩn kỹ thuật công trình, bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động, năng lượng và phát triển hạ tầng thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành và địa phương; do đó cần cơ chế phối hợp liên ngành và phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan.
Tôi cho rằng nhận định này cần được đi thêm một bước.
**Không chỉ cần phân công chức năng giữa các cơ quan, mà cần phân công trách nhiệm đối với kết quả cuối cùng.**
Đây là hai vấn đề khác nhau.
Phân công chức năng có thể xác định Bộ nào quản lý khí hậu, Bộ nào quản lý xây dựng, Bộ nào quản lý y tế, Bộ nào quản lý năng lượng, địa phương nào quản lý đô thị. Nhưng trong thực tế, một tác hại khí hậu thường không nằm gọn trong phạm vi của một ngành.
Khi một khu dân cư có điều kiện nhiệt quá cao, ai chịu trách nhiệm bảo đảm điều kiện vi khí hậu của khu dân cư đó?
Khi một trường học có sân bê tông lớn, thiếu bóng mát và học sinh phải hoạt động trong điều kiện nhiệt bất lợi, ai có trách nhiệm xử lý?
Khi người lao động ngoài trời phải làm việc trong điều kiện nhiệt cực đoan, ngưỡng nào sẽ kích hoạt nghĩa vụ thay đổi thời gian làm việc, thời gian nghỉ, điều kiện bảo hộ và các biện pháp làm mát?
Khi một dự án đô thị mới làm giảm cây xanh, tăng bề mặt hấp thụ nhiệt hoặc cản trở thông gió tự nhiên, tiêu chí nào xác định dự án đó đã tạo ra một rủi ro nhiệt không thể chấp nhận được?
Khi một tòa nhà phải tiêu thụ lượng điện rất lớn để duy trì điều kiện nhiệt có thể chấp nhận được, khi nào việc đó được coi là một vấn đề về khả năng chống chịu của công trình chứ không chỉ là vấn đề tiêu thụ năng lượng?
Nếu không trả lời được những câu hỏi này thì việc có thêm chiến lược hay không chưa phải là vấn đề cốt lõi.
**Vấn đề cốt lõi là hệ thống chính sách hiện nay chưa chuyển đầy đủ từ “quản lý biến đổi khí hậu” sang “quản trị tác hại do biến đổi khí hậu gây ra”.**
Tôi cho rằng đây là một thay đổi rất quan trọng về tư duy.
Một chính sách khí hậu có thể bắt đầu từ kịch bản khí hậu, nhưng không nên kết thúc ở kịch bản khí hậu.
Kịch bản cho chúng ta biết điều gì có thể xảy ra.
Đánh giá rủi ro cho chúng ta biết nơi nào dễ tổn thương.
Chiến lược cho chúng ta biết muốn đạt mục tiêu gì.
Kế hoạch cho chúng ta biết phải thực hiện nhiệm vụ gì.
Quy hoạch cho chúng ta biết phải tổ chức không gian như thế nào.
Tiêu chuẩn kỹ thuật cho chúng ta biết phải thiết kế ra sao.
Nhưng hệ thống quản trị cuối cùng phải trả lời được một câu hỏi khác:
**Khi tác động vượt một mức nhất định thì ai bắt buộc phải làm gì?**
Tôi gọi đây là khoảng trống về **“ngưỡng hành động”**.
Hiện nay, nhiều văn bản sử dụng các thuật ngữ như “tăng cường”, “thúc đẩy”, “khuyến khích”, “nghiên cứu”, “lồng ghép”, “phổ biến”, “nhân rộng”, “bảo đảm”, “giảm thiểu”. Đây là ngôn ngữ cần thiết ở cấp chiến lược, nhưng nếu không được chuyển thành các ngưỡng định lượng hoặc tiêu chí vận hành thì rất khó tạo ra sự thay đổi hành vi.
Một chiến lược có khả năng tác động cần xác định được chuỗi:
**ngưỡng tác động → ngưỡng nguy hiểm → ngưỡng phải hành động → chủ thể chịu trách nhiệm → hành động bắt buộc → thời hạn thực hiện → nguồn lực → chỉ số kết quả → cơ chế kiểm tra → cơ chế xử lý khi không đạt.**
Ví dụ, đối với nắng nóng cực đoan, cần từng bước nghiên cứu và xác định các ngưỡng liên quan đến nhiệt độ, thời gian phơi nhiễm nhiệt, chỉ số nhiệt, điều kiện vi khí hậu, mức độ sử dụng không gian công cộng, điều kiện làm việc ngoài trời, điều kiện nhiệt trong trường học, bệnh viện, nhà ở và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
Khi một ngưỡng được xác định là nguy hiểm, hệ thống phải có cơ chế tự động hoặc bán tự động kích hoạt hành động tương ứng.
Đó có thể là thay đổi giờ làm việc, tăng thời gian nghỉ, tổ chức điểm tránh nóng, mở rộng không gian công cộng có bóng mát, điều chỉnh hoạt động trường học, tăng cường y tế cộng đồng, cải tạo mái và mặt đứng công trình, bổ sung cây xanh, tăng bề mặt thấm nước, tổ chức lại không gian đô thị, thay đổi vật liệu, tăng thông gió hoặc các giải pháp làm mát khác tùy từng loại tác động.
Ở đây, điều quan trọng không phải là Nhà nước phải quy định cứng nhắc một giải pháp duy nhất, mà là phải **xác định được ngưỡng mà tại đó việc không hành động trở thành không thể chấp nhận được**.
Điều này cũng giải quyết một vấn đề rất thực tế trong quản trị biến đổi khí hậu: **các chủ thể thường chỉ thay đổi hành vi khi tác hại đã vượt quá ngưỡng chịu đựng hoặc chi phí của việc không thay đổi đã trở nên lớn hơn chi phí thay đổi.**
Một doanh nghiệp có thể không tự nguyện đầu tư giải pháp chống nóng nếu chi phí đầu tư lớn nhưng lợi ích chưa nhìn thấy ngay. Một chủ đầu tư có thể không tự giảm mật độ xây dựng nếu việc đó làm giảm hiệu quả kinh tế của dự án. Một địa phương có thể khó ưu tiên cải tạo một khu phố nóng nếu chưa có tiêu chí xác định mức độ nguy hiểm. Người dân có thể tiếp tục sống trong điều kiện nóng nếu chi phí cải tạo nhà ở quá cao.
Do đó, chính sách thích ứng phải tạo ra một cơ chế để **tác hại được nhận diện trước khi vượt quá ngưỡng chịu đựng của xã hội**, thay vì chỉ phản ứng sau khi thiệt hại đã xảy ra.
Từ góc độ này, tôi cho rằng không nên xem việc xây dựng một chiến lược riêng về nắng nóng cực đoan chỉ đơn giản là thêm một văn bản vào hệ thống hiện hành. Nếu Bộ nhận thấy việc ban hành một chiến lược riêng có thể gây chồng chéo, tôi hoàn toàn đồng tình với việc không tạo thêm một tầng văn bản nếu tầng văn bản đó không tạo thêm năng lực thực thi.
Thay vào đó, tôi kính đề nghị Bộ nghiên cứu một phương thức phù hợp hơn, có thể gọi là **“Cơ chế quốc gia về quản trị rủi ro nhiệt và khả năng chống chịu nhiệt đô thị”**, hoặc tích hợp thành một chương trình, cơ chế liên ngành trong hệ thống chính sách hiện hành.
Mục tiêu của cơ chế này không phải là tạo thêm một hệ thống hành chính mới mà là tạo ra **một tầng thực thi nằm giữa chiến lược quốc gia và các hoạt động cụ thể ở địa phương, đô thị, công trình và cộng đồng**.
Cơ chế đó có thể tập trung vào năm nội dung.
Thứ nhất, xây dựng hệ thống **bản đồ tác động nhiệt**, không chỉ lập bản đồ nhiệt độ mà lập bản đồ tác hại: khu vực nào có nguy cơ cao, nhóm dân cư nào bị ảnh hưởng, thời gian phơi nhiễm bao lâu, hạ tầng nào dễ tổn thương và thiệt hại kinh tế - xã hội có thể phát sinh.
Thứ hai, xây dựng **hệ thống ngưỡng khí hậu và ngưỡng tác động**, trong đó phân biệt ngưỡng cảnh báo, ngưỡng nguy hiểm, ngưỡng hành động và ngưỡng khẩn cấp. Việc xác định ngưỡng cần dựa trên dữ liệu khí hậu, sức khỏe, lao động, xây dựng, năng lượng, quy hoạch đô thị và đặc điểm của từng địa phương.
Thứ ba, thiết lập **ma trận trách nhiệm**, trong đó không chỉ ghi cơ quan nào có chức năng gì mà phải xác định rõ cơ quan hoặc chủ thể nào chịu trách nhiệm chính khi một ngưỡng tác động bị vượt qua; cơ quan nào phối hợp; nguồn lực từ đâu và thời hạn xử lý thế nào.
Thứ tư, chuyển các ngưỡng đó thành **yêu cầu trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý đô thị**, để thích ứng khí hậu không còn chỉ là nội dung được “lồng ghép” trong báo cáo mà trở thành một tiêu chí thực tế để quyết định một dự án, một khu dân cư, một công trình hay một không gian công cộng có đạt yêu cầu hay không.
Thứ năm, thiết lập **hệ thống đo lường kết quả**, trong đó đánh giá chính sách bằng mức độ giảm tác hại đối với con người và nền kinh tế, thay vì chủ yếu đánh giá bằng số lượng kế hoạch được ban hành, số nhiệm vụ được triển khai hoặc số văn bản được lồng ghép.
Tôi cho rằng nguyên tắc quan trọng nhất của cách tiếp cận này phải là:
**Người dân phải trở thành thước đo cuối cùng của chính sách thích ứng khí hậu.**
Nếu một chính sách được ban hành nhưng người dân vẫn phải chịu nhiệt độ nguy hiểm, người lao động vẫn mất năng suất, người già vẫn không thể tiếp cận không gian mát, trẻ em vẫn phải học trong điều kiện nhiệt bất lợi, hộ gia đình vẫn phải gánh chi phí làm mát ngày càng cao thì không thể chỉ căn cứ vào việc hệ thống đã có đủ chiến lược, kế hoạch và hướng dẫn để kết luận rằng vấn đề đã được xử lý.
Ở đây cũng cần nhìn nhận rộng hơn đối với phương thức xây dựng và thực hiện các chiến lược ngành hiện nay.
Một trong những nguy cơ của quản trị hiện đại là **hành chính hóa các vấn đề thực chất**. Một vấn đề của đời sống được chuyển thành một chiến lược; chiến lược được chuyển thành kế hoạch; kế hoạch được chuyển thành nhiệm vụ; nhiệm vụ được chuyển thành báo cáo; báo cáo được đánh giá bằng mức độ hoàn thành thủ tục. Trong quá trình đó, vấn đề ban đầu có thể bị che khuất bởi chính hệ thống văn bản được xây dựng để giải quyết nó.
Đối với biến đổi khí hậu, nguy cơ này đặc biệt đáng lưu ý bởi tác động khí hậu không chờ quá trình hành chính hoàn thành.
Nhiệt vẫn tăng.
Đô thị vẫn nóng.
Người dân vẫn chịu tác động.
Năng suất lao động vẫn bị ảnh hưởng.
Chi phí năng lượng vẫn tăng.
Các nhóm dễ bị tổn thương vẫn phải chịu rủi ro lớn hơn.
Vì vậy, tôi kính đề nghị Bộ xem xét một cách tiếp cận mới: **từ quản lý văn bản sang quản lý tác động; từ mục tiêu chung sang ngưỡng hành động; từ phân công chức năng sang trách nhiệm về kết quả; từ “lồng ghép” sang tiêu chí bắt buộc; từ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ sang đánh giá mức độ giảm thiệt hại thực tế.**
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với yêu cầu ngày càng cao về quản trị dựa trên dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Thực tế, hệ thống hiện hành đã có cơ sở để đánh giá các hiểm họa, mức độ dễ bị tổn thương và rủi ro khí hậu; các hướng dẫn hiện hành đã đề cập đến việc nhận diện các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và xây dựng chuỗi ảnh hưởng để phục vụ đánh giá. Điều cần thiết tiếp theo là đưa kết quả đánh giá đó xuống cấp độ quyết định và hành động cụ thể.
Tôi cũng cho rằng hướng tiếp cận này có thể được mở rộng vượt ra ngoài vấn đề nắng nóng. Khi đã hình thành phương pháp **quản trị theo ngưỡng tác động**, có thể áp dụng cho nhiều loại rủi ro khác như ngập đô thị, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, thiếu nước, ô nhiễm không khí và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu “xử lý từ gốc với lộ trình cụ thể” và lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng trong thích ứng biến đổi khí hậu.
Đối với riêng nắng nóng cực đoan và chống chịu nhiệt đô thị, tôi kính đề nghị Bộ nghiên cứu lựa chọn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh làm địa bàn thí điểm, bởi chính văn bản trả lời của Cục cho biết Kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật đang dự kiến bổ sung các kịch bản chi tiết về cực đoan nhiệt độ và đảo nhiệt đô thị đối với hai thành phố này.
Có thể xây dựng thí điểm theo hướng: **một địa bàn – một bản đồ rủi ro nhiệt – một hệ thống ngưỡng – một ma trận trách nhiệm – một chương trình hành động – một hệ thống đo lường kết quả**.
Nếu mô hình này chứng minh được hiệu quả, có thể từng bước nhân rộng trên phạm vi quốc gia.
Tôi xin nhấn mạnh rằng mục đích của phản hồi này không phải đề nghị Bộ xây dựng thêm một văn bản để bổ sung vào hệ thống văn bản hiện hành. Ngược lại, tôi cho rằng **điều cần thiết hiện nay có thể chính là giảm sự phụ thuộc vào việc tạo thêm văn bản và tăng năng lực thực thi của những chính sách đã có**.
Điều tôi kiến nghị là Bộ nghiên cứu khoảng trống giữa **“đã có chính sách” và “đã tạo ra thay đổi”**; giữa **“đã phân công nhiệm vụ” và “đã có người chịu trách nhiệm về kết quả”**; giữa **“đã đánh giá rủi ro” và “đã có hành động khi rủi ro vượt ngưỡng”**.
Nếu giải quyết được khoảng trống này, việc có ban hành thêm một “Chiến lược quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan” hay tích hợp nội dung vào các chiến lược hiện hành chỉ còn là vấn đề về hình thức pháp lý và tổ chức thực hiện. Điều quan trọng nhất là phải hình thành được một **cơ chế quản trị có khả năng phát hiện tác hại, xác định ngưỡng, kích hoạt hành động, quy trách nhiệm và đo lường kết quả**.
Tôi kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét nội dung phản hồi này không chỉ trong phạm vi kiến nghị số 12 mà như một đề xuất về đổi mới phương thức quản trị thích ứng biến đổi khí hậu nói chung, theo tinh thần lấy khoa học, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm giải trình và đời sống thực tế của người dân làm trung tâm.
Tôi trân trọng cảm ơn Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biến đổi khí hậu đã tiếp nhận và nghiên cứu kiến nghị.
**Trân trọng.**
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời
Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến góp ý và đề xuất của ông Trương Nam Thuận Đề nghị nghiên cứu xây dựng Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu theo tinh thần Nghị quyết 57. Sau đây là ý kiến của Bộ:
Nội dung trả lời:
- Hiện nay, hệ thống chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu cơ bản đã được hoàn thiện. Mặc dù chưa có quy định riêng về thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị, các hoạt động này đã được điều chỉnh thông qua các quy định của pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu và được lồng ghép trong các chiến lược, kế hoạch quốc gia có liên quan, cụ thể như sau:
+ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định xây dựng, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu (khoản 10 Điều 166); đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, khu vực và cộng đồng dân cư trên cơ sở kịch bản biến đổi khí hậu và dự báo phát triển kinh tế - xã hội; triển khai các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và dựa vào hệ sinh thái (khoản 2 Điều 90); quy định việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp, bao gồm việc áp dụng các biện pháp làm mát bền vững, công nghệ, quy trình sản xuất và dịch vụ ít phát thải (Điều 91). Đây là cơ sở pháp lý để triển khai các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị.
+ Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và Nghị định 83/2026/NĐ-CP đã thể chế hóa thuật ngữ “làm mát bền vững”, đồng thời quy định các cơ chế khuyến khích nhằm thúc đẩy áp dụng các giải pháp làm mát bền vững tại Việt Nam.
+ Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07/01/2022 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 08/2025/TT-BNNMT hướng dẫn đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội, là cơ sở đề xuất các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan.
+ Thông tư số 06/2023/TT-BTNMT ngày 31/7/2023 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) hướng dẫn lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, là căn cứ để lồng ghép giải pháp thích ứng với nắng nóng, đảo nhiệt và giải pháp làm mát đô thị vào chiến lược, quy hoạch có liên quan.
+ Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022) và Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật) (Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024) đã xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm có liên quan tới ứng phó với nắng nóng cực đoan và nhiệt đô thị, gồm: (i) Phát triển đô thị, hạ tầng đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng dụng các giải pháp làm mát bền vững, vật liệu mới có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực xây dựng và đô thị; Xây dựng công trình, nhà ở chống nắng nóng, sử dụng các giải pháp làm mát xanh, dựa vào tự nhiên để giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, sử dụng vật liệu ít phát thải khí nhà kính, vật liệu tái chế; (ii) Triển khai các giải pháp tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai và các điều kiện khí hậu, thời tiết cực đoan; thực hiện các giải pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai, giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu, sẵn sàng ứng phó với thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng; (iii) Tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân, đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương tại các vùng thường xuyên chịu tác động của khí hậu cực đoan và thiên tai.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương để Việt Nam tham gia “Cam kết Làm mát Toàn cầu” năm 2023, hướng tới mục tiêu cùng các quốc gia trên thế giới giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động làm mát ít nhất 68% vào năm 2050 so với 2022; tại Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát (Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024) đã đưa ra mục tiêu cụ thể về làm mát bền vững: (i) Các yêu cầu về giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và chống chịu với nắng nóng cực đoan được nghiên cứu, lồng ghép trong các chương trình phát triển đô thị cấp quốc gia, cấp tỉnh, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia và từng địa phương, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan của tỉnh; (ii) Các công trình xây dựng mới đạt chứng nhận công trình xanh, công trình hiệu quả năng lượng trong thiết kế, xây dựng và vận hành; tòa nhà xây dựng mới đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng đáp ứng mức cân bằng về năng lượng (NZEB); tăng diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị; (iii) Phổ biến và nhân rộng các mô hình về làm mát bền vững, mô hình kinh doanh dịch vụ làm mát tại các khu đô thị, khu dân cư, tòa nhà văn phòng, thương mại và công trình công cộng. Đồng thời, kế hoạch cũng đưa ra lộ trình, các nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm trong triển khai thực hiện các giải pháp làm mát bền vững tại Việt Nam đến năm 2045. Trong đó, Kế hoạch đã đưa ra các nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện trong giai đoạn đến năm 2030 có liên quan đến làm mát bền vững như: nghiên cứu, xây dựng và ban hành hướng dẫn lồng ghép giải pháp làm mát bền vững trong quy hoạch đô thị và xây dựng công trình; nghiên cứu, xây dựng, cập nhật các văn bản, hướng dẫn kỹ thuật để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giảm phát thải các-bon, từng bước đáp ứng tiêu chí chứng nhận công trình xanh trong thiết kế, xây dựng và vận hành đối với các công trình xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp; nghiên cứu, xây dựng quy định về định mức sử dụng năng lượng cho các loại hình tòa nhà xây dựng mới.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Kịch bản biến đổi khí hậu (phiên bản cập nhật năm 2025), trong đó dự kiến cập nhật các kịch bản chi tiết về cực đoan nhiệt độ và đảo nhiệt đô thị đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi được ban hành, đây sẽ là cơ sở khoa học phục vụ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng, đề xuất các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu. Các giải pháp cụ thể về quy hoạch và phát triển đô thị, tiêu chuẩn kỹ thuật công trình, bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động, năng lượng và phát triển hạ tầng thuộc phạm vi quản lý của các bộ, ngành và địa phương theo lĩnh vực được phân công. Vì vậy, việc triển khai các giải pháp thích ứng với nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị cần được thực hiện theo cơ chế phối hợp liên ngành, bảo đảm thống nhất trong xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện, đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan.
- Đối với kiến nghị xây dựng Chiến lược quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị: Hiện nay, các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về thích ứng với nắng nóng cực đoan, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và thúc đẩy làm mát bền vững đã được lồng ghép trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật) và Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát, vì vậy, cần ưu tiên tổ chức triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã được phê duyệt. Việc xây dựng một Chiến lược Quốc gia về thích ứng nắng nóng cực đoan và nâng cao khả năng chống chịu nhiệt đô thị tại thời điểm hiện nay có thể dẫn đến chồng chéo, trùng lặp với các văn bản đã được ban hành.