T
TRƯƠNG NAM THUẬN
Ngày 23/08/2026, 13:16
THƯ KIẾN NGHỊ
Về việc góp ý Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW
Kính gửi: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Kính thưa Bộ trưởng và Ban Soạn thảo Dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa,
Tôi xin trân trọng gửi tới Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch một số ý kiến kiến nghị đối với Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa, với mong muốn đóng góp vào quá trình hoàn thiện một đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tương lai phát triển của văn hóa, kinh tế sáng tạo và năng lực cạnh tranh của Việt Nam.
Tôi cho rằng việc xây dựng Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa là một bước tiến rất quan trọng. Đây không chỉ là việc hoàn thiện thêm một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, mà có thể trở thành cơ hội để Việt Nam xác lập một mô hình phát triển mới, trong đó văn hóa không chỉ được bảo tồn và thụ hưởng mà còn được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp, việc làm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng để phát triển đất nước, tôi cho rằng Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa cần được đặt trong cùng một hệ tư duy đó. Công nghiệp văn hóa về bản chất chính là một lĩnh vực của kinh tế tri thức và kinh tế sáng tạo, nơi tài sản quan trọng nhất không phải chỉ là đất đai, nhà xưởng hay máy móc mà là trí tưởng tượng, tài năng, tri thức, bản sắc, dữ liệu, công nghệ và tài sản trí tuệ của con người.
Vì vậy, điều tôi đặc biệt kiến nghị là Dự thảo Luật cần mạnh dạn chuyển từ tư duy “quản lý công nghiệp văn hóa” sang tư duy “kiến tạo năng lực phát triển công nghiệp văn hóa”.
Một đạo luật về phát triển không nên được đánh giá trước hết bằng việc Nhà nước có thêm bao nhiêu công cụ quản lý, bao nhiêu loại hồ sơ, bao nhiêu cơ chế phê duyệt hay bao nhiêu đối tượng được phân loại. Thước đo quan trọng hơn phải là sau khi Luật được ban hành, người dân, người sáng tạo và doanh nghiệp có thể làm được những gì mà trước đây họ chưa làm được; họ có thể làm nhanh hơn, ít chi phí hơn, tiếp cận vốn dễ hơn, bảo vệ tài sản trí tuệ tốt hơn, tiếp cận thị trường rộng hơn và đưa sản phẩm Việt Nam ra thế giới thuận lợi hơn hay không.
Từ góc nhìn đó, tôi kiến nghị Ban Soạn thảo quán triệt một nguyên tắc xuyên suốt: mỗi quy định của Luật phải hướng tới việc tháo bỏ một điểm nghẽn, tạo thêm một năng lực hoặc giảm một loại chi phí cho xã hội; không nên tạo thêm thủ tục chỉ để tăng năng lực quản lý hành chính.
Trước hết, cần đặc biệt kiểm soát nguy cơ hình thành một cơ chế “xin – cho” mới thông qua chính sách ưu đãi. Việc dự thảo đưa ra nhiều chính sách về đất đai, đầu tư, thuế, tín dụng, hạ tầng, tài sản trí tuệ và hỗ trợ doanh nghiệp là rất cần thiết. Tuy nhiên, nếu để doanh nghiệp phải chứng minh qua nhiều tầng nấc rằng sản phẩm của mình có đủ “hàm lượng bản sắc Việt Nam”, tài sản trí tuệ của mình thuộc loại “trọng điểm”, dự án của mình thuộc nhóm “được ưu tiên” thì chính sách hỗ trợ có thể vô tình trở thành một loại giấy phép mới. Khi đó, doanh nghiệp phải dành nguồn lực để chứng minh mình đủ điều kiện được hỗ trợ thay vì dành nguồn lực để sáng tạo và phát triển thị trường.
Do đó, tôi kiến nghị chuyển mạnh sang nguyên tắc ưu đãi theo hoạt động và kết quả thay vì ưu đãi theo danh hiệu hoặc xác nhận hành chính. Những hoạt động như đầu tư nghiên cứu sáng tạo, sản xuất nội dung văn hóa Việt Nam, phát triển và thương mại hóa tài sản trí tuệ, xuất khẩu sản phẩm văn hóa, đào tạo nhân lực sáng tạo, số hóa di sản, phát triển công nghệ văn hóa hoặc đầu tư vào hạ tầng sáng tạo có thể được xác định bằng tiêu chí rõ ràng và áp dụng cơ chế ưu đãi minh bạch, càng nhiều kết quả càng được hưởng nhiều chính sách. Không nên biến các khái niệm định tính như “bản sắc” hay “sáng tạo” thành cánh cửa hành chính mà doanh nghiệp phải xin phép để được bước qua.
Tôi đặc biệt kiến nghị Luật cần có một nguyên tắc hạn chế thủ tục hành chính được quy định ngay trong Luật. Theo đó, khi một cơ quan nhà nước đã có dữ liệu thì không yêu cầu người dân và doanh nghiệp cung cấp lại; một thông tin chỉ được cung cấp một lần và được sử dụng nhiều lần trong hệ thống nhà nước; mọi thủ tục mới phải đánh giá chi phí tuân thủ; nếu có nhiều phương án đạt cùng mục tiêu quản lý thì phải lựa chọn phương án ít thủ tục, ít chi phí và ít can thiệp nhất.
Tinh thần này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cải cách thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57. Chuyển đổi số không nên chỉ được hiểu là đưa thủ tục giấy lên môi trường điện tử. Mục tiêu phải là loại bỏ những thủ tục không cần thiết, tự động hóa những việc có thể tự động hóa và để Nhà nước tự khai thác dữ liệu mà mình đã có.
Tôi cũng kiến nghị Luật xác lập rõ nguyên tắc chuyển từ tiền kiểm đại trà sang hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực có tốc độ đổi mới rất cao. Một ý tưởng mới có thể xuất hiện hôm nay và trở thành sản phẩm trong vài tuần hoặc vài tháng. Nếu mọi hoạt động mới đều phải chờ cơ quan quản lý xác nhận trước khi được thực hiện, pháp luật sẽ luôn đi sau sáng tạo.
Những hoạt động có rủi ro cao liên quan đến an toàn, sức khỏe, quyền lợi của người khác hoặc an ninh phải được quản lý chặt chẽ. Nhưng đối với các hoạt động sáng tạo có rủi ro thấp, cần cho phép thử nghiệm trong khuôn khổ pháp luật và kiểm tra bằng kết quả thực tế. Những chủ thể có lịch sử tuân thủ tốt nên được giảm thủ tục. Những mô hình hoàn toàn mới cần có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – sandbox. Đây nên trở thành một nguyên tắc chung của Luật, không chỉ áp dụng cho một số tổ hợp hoặc khu sáng tạo cụ thể.
Một điểm nghẽn rất lớn khác là tài sản trí tuệ. Tôi đánh giá cao việc Dự thảo đã đặt tài sản trí tuệ vào vị trí quan trọng trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng chúng ta xây dựng được một hệ thống “hồ sơ tài sản trí tuệ” nhưng lại chưa xây dựng được thị trường tài sản trí tuệ.
Tài sản trí tuệ chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi nó có thể được định danh, bảo vệ, định giá, cấp phép, chuyển nhượng, góp vốn, bảo hiểm, dùng làm tài sản bảo đảm và thương mại hóa. Vì vậy, bên cạnh cơ sở dữ liệu và mã định danh, Luật cần đặt trọng tâm vào việc hình thành hạ tầng thị trường tài sản trí tuệ, bao gồm cơ chế định giá, chuẩn hợp đồng, giao dịch quyền khai thác, chia sẻ doanh thu, bảo hiểm và xử lý tài sản trí tuệ khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Đặc biệt, cần thiết kế cơ chế Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro tài chính trong giai đoạn thị trường tài sản trí tuệ chưa trưởng thành, thay vì chỉ yêu cầu ngân hàng tự chấp nhận rủi ro. Có thể nghiên cứu quỹ bảo lãnh, quỹ đồng đầu tư, vốn mồi hoặc các cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp. Mục tiêu không phải để Nhà nước cho vay thay ngân hàng, mà là dùng nguồn lực công có giới hạn để thu hút nguồn vốn tư nhân lớn hơn vào các tài sản sáng tạo.
Tôi cũng kiến nghị bổ sung mạnh hơn công cụ mua sắm công và đặt hàng công đối với sản phẩm công nghiệp văn hóa. Nhà nước là một khách hàng rất lớn của ngành kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật, điện ảnh, xuất bản, bảo tàng, triển lãm, nội dung số, số hóa di sản, không gian công cộng và nhiều sản phẩm sáng tạo khác. Thay vì chủ yếu hỗ trợ doanh nghiệp bằng các khoản hỗ trợ trực tiếp, Nhà nước có thể tạo thị trường thông qua việc đặt hàng sản phẩm sáng tạo theo cơ chế cạnh tranh, minh bạch và đánh giá bằng kết quả.
Đây sẽ là một sự thay đổi quan trọng từ “Nhà nước cấp tiền cho doanh nghiệp” sang “Nhà nước tạo thị trường để doanh nghiệp tạo ra sản phẩm”. Doanh nghiệp có doanh thu thực tế, khách hàng thực tế và sản phẩm thực tế sẽ có khả năng tiếp tục phát triển bằng thị trường thay vì phụ thuộc vào hỗ trợ ngân sách.
Đối với hạ tầng công nghiệp văn hóa, tôi kiến nghị không nên đồng nhất “hạ tầng sáng tạo” với “dự án bất động sản sáng tạo”. Một tổ hợp sáng tạo chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự tạo ra dòng người, dòng tri thức, dòng vốn, dòng công nghệ và dòng thị trường. Vì vậy, cần tạo cơ chế sử dụng và chuyển đổi công năng linh hoạt đối với nhà máy cũ, kho cũ, công trình công cộng, tài sản công chưa khai thác, không gian tầng trệt, khu phố cũ và những tài sản hiện hữu có khả năng trở thành không gian sáng tạo.
Đây là một điểm mà công nghiệp văn hóa có thể kết nối rất mạnh với quy hoạch đô thị và kiến trúc. Không nhất thiết phải xây thêm những khu mới; rất nhiều khi tài nguyên sáng tạo đã tồn tại trong thành phố nhưng đang bị khóa bởi quy hoạch, đất đai, tài sản công và thủ tục chuyển đổi công năng. Nếu tháo được điểm nghẽn này, chúng ta vừa tạo được không gian sáng tạo, vừa tái sử dụng tài sản hiện hữu, vừa bảo tồn ký ức đô thị và vừa tạo ra hoạt động kinh tế mới.
Tôi đặc biệt kiến nghị Luật cần xác lập địa vị pháp lý rõ ràng hơn cho cá nhân hoạt động sáng tạo độc lập, nhóm sáng tạo và doanh nghiệp siêu nhỏ. Đây là tầng lớp có thể tạo ra rất nhiều đổi mới nhưng thường không đủ năng lực hành chính để tiếp cận những chính sách vốn được thiết kế cho doanh nghiệp lớn. Một nhóm vài người làm phim, thiết kế, kiến trúc, game, âm nhạc, thời trang, nghệ thuật số hay nội dung sáng tạo có thể sở hữu tài sản trí tuệ rất giá trị nhưng chưa chắc đã có pháp nhân, tài sản thế chấp hay bộ máy kế toán hoàn chỉnh.
Vì vậy, Luật cần tạo ra một con đường pháp lý từ cá nhân sáng tạo đến nhóm sáng tạo, từ nhóm sáng tạo đến startup và từ startup đến doanh nghiệp trưởng thành, thay vì buộc mọi chủ thể phải bước vào hệ thống bằng mô hình doanh nghiệp ngay từ đầu. Có thể nghiên cứu cơ chế đăng ký chủ thể sáng tạo, tài khoản sáng tạo hoặc hồ sơ tài sản sáng tạo đơn giản, qua đó giúp họ tiếp cận sở hữu trí tuệ, không gian, đào tạo, tư vấn pháp lý, vốn mồi và thị trường.
Tôi cũng kiến nghị Luật phải làm rõ hơn cơ chế phân quyền. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển bằng một mô hình duy nhất từ Trung ương áp xuống địa phương. Mỗi đô thị, mỗi vùng, mỗi cộng đồng có một tài nguyên văn hóa và một thị trường khác nhau. Thành phố Hồ Chí Minh có hệ sinh thái thiết kế, truyền thông, kiến trúc, điện ảnh, thời trang và kinh tế đêm khác với Huế; Hà Nội khác Đà Nẵng; Hội An khác đồng bằng sông Cửu Long.
Do đó, Trung ương nên tập trung xây dựng nguyên tắc, chuẩn mực và giới hạn rủi ro, đồng thời trao quyền đủ lớn cho địa phương thí điểm các mô hình phù hợp. Những địa phương có năng lực nên được thử nghiệm cơ chế về không gian sáng tạo, tài sản công, kinh tế đêm, chuyển đổi công năng, đặt hàng sáng tạo, xúc tiến quốc tế và các mô hình mới. Thành công thì nhân rộng; thất bại thì đánh giá và điều chỉnh. Đây chính là tinh thần “thí điểm – đánh giá – nhân rộng” rất phù hợp với tư duy đổi mới sáng tạo của Nghị quyết 57.
Một vấn đề khác cần được Luật quán triệt là không biến công tác thống kê và dữ liệu thành gánh nặng cho doanh nghiệp. Dữ liệu về công nghiệp văn hóa là rất cần thiết, nhưng Nhà nước phải xây dựng năng lực thu thập dữ liệu từ hệ thống có sẵn, từ giao dịch thị trường và từ nền tảng số, thay vì yêu cầu doanh nghiệp liên tục lập báo cáo thủ công. Dữ liệu phải được tạo ra để phục vụ doanh nghiệp và chính sách, chứ không phải để doanh nghiệp phục vụ nhu cầu báo cáo của bộ máy.
Đặc biệt, cần đặt ra một nguyên tắc mới: dữ liệu công nghiệp văn hóa phải quay trở lại phục vụ thị trường. Nhà nước có thể công bố những dữ liệu tổng hợp, không xâm phạm bí mật kinh doanh, về xu hướng thị trường, doanh thu, nhu cầu, thị trường quốc tế, tài sản trí tuệ, nhân lực, không gian sáng tạo và dòng vốn. Khi dữ liệu được mở ở mức phù hợp, doanh nghiệp có thể dùng dữ liệu đó để ra quyết định đầu tư, nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
Tôi cũng kiến nghị Ban Soạn thảo bổ sung một nguyên tắc rất quan trọng: mọi chính sách hỗ trợ phải có đầu ra và có lối thoát. Không nên xây dựng những chương trình hỗ trợ kéo dài vô thời hạn. Mỗi chính sách phải xác định rõ nó đang giải quyết thất bại thị trường nào, cần bao nhiêu nguồn lực công, có thể huy động bao nhiêu nguồn lực tư nhân và khi nào doanh nghiệp có thể tự đứng bằng thị trường. Hiệu quả phải được đo bằng doanh thu mới, vốn tư nhân huy động, việc làm, sản phẩm, xuất khẩu, tài sản trí tuệ được thương mại hóa và số doanh nghiệp trưởng thành.
Tôi cho rằng đây chính là điểm mà tinh thần Nghị quyết 57 có thể tạo ra một bước chuyển rất sâu đối với Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Không nên xem công nghiệp văn hóa chỉ là một ngành cần được hỗ trợ; cần xem đây là một không gian để thử nghiệm mô hình quản trị mới, trong đó thể chế phải đi trước một bước để mở đường cho sáng tạo.
Vì vậy, tôi kính đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét bổ sung vào Dự thảo Luật một “Bộ nguyên tắc phát triển công nghiệp văn hóa” mang tính nền tảng, có thể bao gồm các nguyên tắc: lấy người dân, người sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm; Nhà nước kiến tạo thay vì can thiệp hành chính; quản lý theo rủi ro; hậu kiểm là chủ đạo; ưu đãi theo hoạt động và kết quả; một lần cung cấp dữ liệu, nhiều lần sử dụng; Nhà nước không chọn người thắng; Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu nhưng không thay thế thị trường; Nhà nước sử dụng mua sắm công để tạo thị trường; bảo vệ tài sản trí tuệ và quyền của người sáng tạo; tạo không gian thử nghiệm; phân quyền cho địa phương; đánh giá chính sách bằng kết quả và kiểm soát chi phí tuân thủ.
Tôi cũng kính đề nghị Ban Soạn thảo thực hiện một “rà soát điểm nghẽn” đối với toàn bộ Dự thảo, không chỉ rà soát tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản. Với từng điều khoản, cần đặt câu hỏi: quy định này tháo gỡ điểm nghẽn nào; ai được hưởng lợi; ai phải thực hiện thêm nghĩa vụ; chi phí tuân thủ là bao nhiêu; có thể thực hiện bằng phương án đơn giản hơn không; Nhà nước có thể tự động hóa hay không; có thể hậu kiểm thay vì tiền kiểm hay không; và quy định này có thực sự làm tăng năng lực sáng tạo của xã hội hay chỉ làm tăng năng lực quản lý của cơ quan nhà nước.
Nếu thực hiện được một cuộc rà soát như vậy, tôi tin rằng Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa có thể trở thành một trong những đạo luật tiêu biểu cho tinh thần đổi mới thể chế theo Nghị quyết 57: lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm phương thức; lấy con người và doanh nghiệp làm chủ thể; lấy thể chế làm động lực; lấy thị trường làm cơ chế phân bổ nguồn lực; lấy văn hóa và sáng tạo làm nguồn lực mới của phát triển.
Sau cùng, tôi xin nhấn mạnh rằng điều chúng ta cần xây dựng không phải chỉ là một ngành công nghiệp văn hóa có quy mô lớn hơn, mà là một hệ sinh thái trong đó trí tưởng tượng của người Việt Nam có thể dễ dàng trở thành giá trị kinh tế và giá trị xã hội. Một ý tưởng phải có đường đi để trở thành sản phẩm. Một sản phẩm phải có đường đi để trở thành tài sản trí tuệ. Một tài sản trí tuệ phải có đường đi để trở thành vốn. Một doanh nghiệp phải có đường đi để tiếp cận thị trường. Một sản phẩm Việt Nam phải có đường đi để bước ra thế giới. Và khi sản phẩm thành công, thành quả phải quay trở lại nuôi dưỡng thế hệ sáng tạo tiếp theo.
Đó mới là một hệ sinh thái phát triển.
Và đó cũng là cách để Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa thực sự trở thành một đạo luật mở đường, chứ không trở thành thêm một tầng quản lý đối với những con người vốn đã đang cố gắng sáng tạo trong một môi trường nhiều rào cản.
Trân trọng kính đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Soạn thảo Dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị nêu trên trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Luật.
Trân trọng.
Người kiến nghị
TRƯƠNG NAM THUẬN
GÓP Ý, PHẢN BIỆN VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN DỰ THẢO LUẬT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
Từ tư duy quản lý một lĩnh vực sang tư duy kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế sáng tạo
Tôi cho rằng việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một bước đi rất cần thiết và có ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam. Dự thảo 1.0 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có một thay đổi đáng ghi nhận về nhận thức khi không còn nhìn văn hóa đơn thuần như lĩnh vực bảo tồn, tuyên truyền hay cung cấp các hoạt động phục vụ xã hội, mà đã tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống kinh tế dựa trên tài nguyên văn hóa, năng lực sáng tạo, khoa học công nghệ, tài sản trí tuệ, doanh nghiệp và thị trường. Dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, bao quát các vấn đề về hệ sinh thái, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và chính sách hỗ trợ, đồng thời được xây dựng với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới. Đây là hướng tiếp cận đúng và cần thiết.
Tuy nhiên, chính vì đây là đạo luật đầu tiên đặt nền móng cho một ngành kinh tế mới, yêu cầu đối với Luật không thể chỉ là “có thêm hành lang pháp lý”. Vấn đề quan trọng hơn là hành lang đó phải tạo ra đường đi hay lại tạo thêm hàng rào. Một đạo luật về phát triển công nghiệp văn hóa nếu vẫn chủ yếu tổ chức hoạt động theo logic xác định đối tượng, cấp phép, phân loại, lập hồ sơ, thẩm định, phê duyệt, kiểm tra và báo cáo thì rất dễ rơi vào nghịch lý: nhân danh phát triển để xây dựng thêm một tầng quản lý đối với chính những chủ thể mà luật cần giải phóng sức sáng tạo. Trong khi đó, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực có đặc tính khác căn bản với nhiều ngành kinh tế truyền thống: sản phẩm thay đổi rất nhanh, chu kỳ sáng tạo ngắn, giá trị nằm nhiều trong tài sản vô hình, phần lớn chủ thể là doanh nghiệp nhỏ, cá nhân, nhóm sáng tạo, nghệ sĩ, nhà thiết kế, studio, startup và những mô hình kinh doanh chưa ổn định. Nếu dùng một bộ máy thủ tục được thiết kế cho các ngành sản xuất vật chất để quản lý lĩnh vực này, nguy cơ lớn nhất không phải là nhà nước quản lý chưa đủ, mà là quản lý quá nhiều trước khi thị trường kịp hình thành.
Điểm cần điều chỉnh đầu tiên vì vậy là triết lý của đạo luật. Luật phải thật sự chuyển từ tư duy “quản lý công nghiệp văn hóa” sang “kiến tạo năng lực phát triển công nghiệp văn hóa”. Chính các cơ quan soạn thảo cũng đã xác định tinh thần “Luật kiến tạo”, tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng sức sáng tạo và khơi thông nguồn lực. Nhưng tinh thần đó cần được thể hiện nhất quán trong từng điều khoản. Một đạo luật kiến tạo phải đặt câu hỏi trước tiên rằng: người sáng tạo đang bị mắc ở đâu, doanh nghiệp không thể làm gì, vốn không chảy vào đâu, tài sản trí tuệ đang bị mắc kẹt ở đâu, không gian sáng tạo đang bị bỏ trống ở đâu, sản phẩm Việt Nam không thể đi ra thị trường quốc tế vì lý do gì, và Nhà nước cần làm gì để tháo nút thắt đó. Chỉ sau khi trả lời những câu hỏi này mới xác định công cụ quản lý cần thiết. Không nên đi theo chiều ngược lại là xác lập trước một hệ thống quản lý rồi yêu cầu thị trường đi vào hệ thống đó.
Một vấn đề rất đáng lưu ý là nguy cơ hình thành cơ chế “xin – cho” mới thông qua chính sách ưu đãi. Dự thảo đã đề xuất nhiều chính sách đáng khuyến khích về đất đai, đầu tư, thuế, tín dụng, hạ tầng, tổ hợp sáng tạo và tài sản trí tuệ. Chẳng hạn, dự thảo xác định đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư và đề xuất chính sách ưu đãi đối với tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Đây là hướng đúng, nhưng nếu để doanh nghiệp phải chứng minh qua nhiều tầng hồ sơ rằng sản phẩm của mình thuộc “trọng điểm”, có “hàm lượng bản sắc Việt Nam”, sử dụng “tài sản trí tuệ gốc trọng điểm” hoặc đáp ứng một danh mục được cơ quan hành chính xác nhận, thì ưu đãi rất dễ biến thành một loại giấy phép mềm. Khi đó, doanh nghiệp không còn tập trung vào việc tạo ra sản phẩm tốt mà phải tập trung vào việc chứng minh mình đủ điều kiện để được Nhà nước công nhận là “đối tượng được hỗ trợ”.
Cần đảo ngược nguyên tắc này. Ưu đãi nên mặc định theo hoạt động và kết quả, không nên mặc định theo danh hiệu. Nhà nước có thể quy định rõ những hoạt động nào được hưởng ưu đãi, mức ưu đãi nào tương ứng với kết quả nào và cơ chế hậu kiểm ra sao. Ví dụ, một doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nội dung văn hóa Việt Nam, đào tạo nhân lực sáng tạo, số hóa di sản, phát triển công nghệ văn hóa, xuất khẩu sản phẩm văn hóa hoặc đầu tư vào không gian sáng tạo thì chỉ cần chứng minh hoạt động thực tế và kết quả đầu ra theo tiêu chí định lượng. Không nhất thiết phải xin xác nhận từng sản phẩm rằng nó có đủ “hàm lượng bản sắc Việt Nam” hay không. Đối với những khái niệm khó lượng hóa như bản sắc, sáng tạo, giá trị văn hóa, cần hết sức thận trọng, bởi nếu biến những khái niệm này thành điều kiện hành chính để được hưởng chính sách thì chính Nhà nước sẽ trở thành người quyết định đâu là sáng tạo và đâu là văn hóa, trong khi thị trường, công chúng và thời gian mới là những cơ chế quan trọng để xác lập giá trị của sản phẩm văn hóa.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với kiến trúc, thiết kế, thời trang, nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh và các ngành sáng tạo đương đại. Một sản phẩm có thể rất Việt Nam mà không sử dụng những biểu tượng truyền thống quen thuộc; ngược lại, một sản phẩm sử dụng dày đặc các yếu tố truyền thống vẫn có thể không tạo ra giá trị văn hóa mới. Vì vậy, “bản sắc Việt Nam” nên được xác định chủ yếu như một giá trị cần khuyến khích, chứ không nên trở thành một chiếc cửa hành chính mà nghệ sĩ và doanh nghiệp phải đi qua để được hưởng chính sách.
Một điểm thứ hai cần sửa mạnh là cách tiếp cận đối với tài sản trí tuệ. Đây thực sự có thể là một trong những đột phá lớn nhất của dự thảo, bởi công nghiệp văn hóa khác với công nghiệp truyền thống ở chỗ tài sản lớn nhất của doanh nghiệp nhiều khi không nằm trong đất đai, nhà xưởng hay máy móc mà nằm trong kịch bản, nhân vật, thiết kế, bản nhạc, hình ảnh, phần mềm, thương hiệu, thế giới nội dung, cộng đồng người dùng và quyền khai thác. Chính dự thảo cũng xác định tài sản trí tuệ là một yếu tố đột phá và đặt vấn đề định danh, lập hồ sơ, định giá, thương mại hóa, góp vốn và sử dụng tài sản trí tuệ trong tín dụng.
Nhưng ở đây cần tránh một nghịch lý: để giúp tài sản trí tuệ trở thành tài sản kinh tế, không nên biến việc khai báo và lập hồ sơ tài sản trí tuệ thành một thủ tục hành chính mới. Mã định danh, hồ sơ tài sản trí tuệ và cơ sở dữ liệu nên được thiết kế theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, tích hợp với hệ thống sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, thuế và nền tảng giao dịch. Cá nhân sáng tạo không nên phải tự mình hoàn thành một bộ hồ sơ phức tạp mới có thể được ghi nhận tài sản của mình. Đặc biệt, phải thiết kế cơ chế để dữ liệu được tạo tự động hoặc bán tự động từ các giao dịch, đăng ký quyền, hợp đồng khai thác và hoạt động thương mại hóa.
Quan trọng hơn, Nhà nước không nên chỉ xây dựng “hồ sơ tài sản trí tuệ” mà phải xây dựng “hạ tầng thị trường tài sản trí tuệ”. Một tài sản chỉ có giá trị kinh tế khi có khả năng chuyển nhượng, cấp phép, góp vốn, khai thác, định giá, bảo hiểm, tài trợ và xử lý khi có tranh chấp. Nếu chỉ có giấy chứng nhận mà không có người mua, người định giá, dữ liệu giao dịch, tổ chức trung gian và cơ chế xử lý tài sản khi vỡ nợ thì tài sản trí tuệ vẫn rất khó trở thành tài sản bảo đảm thực tế.
Đối với đề xuất cho phép tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm và cơ chế bảo lãnh tín dụng, đây là hướng rất đáng hoan nghênh, nhưng cần thiết kế theo cơ chế chia sẻ rủi ro, thay vì chỉ giao trách nhiệm cho ngân hàng. Dự thảo đã đề xuất Nhà nước thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ trong giai đoạn thị trường tài chính cho tài sản trí tuệ đang hình thành. Đây là một chính sách đúng hướng, nhưng cần quy định rõ Nhà nước bảo lãnh phần rủi ro nào, tỷ lệ bao nhiêu, trong trường hợp nào, ai định giá, ai chịu trách nhiệm khi định giá sai, cơ chế xử lý tài sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đặc biệt là cơ chế giảm dần hỗ trợ khi thị trường trưởng thành. Nếu không, ngân hàng vẫn sẽ có tâm lý coi tài sản trí tuệ là tài sản “khó xử lý” và quy định trên có nguy cơ chỉ tồn tại trên giấy.
Một thay đổi quan trọng hơn nữa là cần chuyển từ cơ chế cấp vốn theo hồ sơ sang cơ chế vốn theo kết quả. Công nghiệp văn hóa có mức độ rủi ro cao nhưng đồng thời có khả năng tạo ra giá trị rất lớn. Không thể yêu cầu một startup sáng tạo chứng minh chắc chắn doanh thu tương lai rồi mới cho vốn, bởi nếu doanh thu đã chắc chắn thì đó không còn là giai đoạn cần vốn mạo hiểm. Nhà nước nên sử dụng một phần vốn công như vốn mồi, tạo quỹ đồng đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm văn hóa, cơ chế matching fund với khu vực tư nhân, bảo lãnh một phần rủi ro và đặt hàng sản phẩm sáng tạo. Nhà nước không cần chọn nghệ sĩ hay chọn doanh nghiệp thắng cuộc; Nhà nước cần tạo ra cơ chế để nhiều ý tưởng được thử nghiệm và thị trường lựa chọn.
Đây là điểm rất khác giữa Nhà nước cấp tiền và Nhà nước tạo thị trường cho tiền chảy vào sáng tạo.
Một công cụ đặc biệt cần được bổ sung là mua sắm công đối với sản phẩm và dịch vụ công nghiệp văn hóa. Nếu Nhà nước muốn phát triển công nghiệp văn hóa, Nhà nước chính là một khách hàng rất lớn. Nhà nước có nhu cầu về thiết kế, kiến trúc, phim, nội dung số, bảo tàng, triển lãm, xuất bản, trò chơi giáo dục, truyền thông, sản phẩm lưu niệm, số hóa di sản, không gian công cộng, nghệ thuật công cộng và nhiều dịch vụ sáng tạo khác. Thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp bằng tiền, Nhà nước có thể mua sản phẩm tốt của doanh nghiệp. Cách này tạo ra doanh thu, dữ liệu thị trường, khách hàng tham chiếu và khả năng mở rộng cho doanh nghiệp, đồng thời Nhà nước nhận được sản phẩm phục vụ xã hội.
Vì vậy, cần nghiên cứu một chương trình “đặt hàng sáng tạo công”, trong đó cơ quan nhà nước có thể đặt hàng các sản phẩm sáng tạo theo mục tiêu và kết quả, tổ chức tuyển chọn cạnh tranh, thanh toán theo mốc và đánh giá sau sử dụng. Đây sẽ là một trong những công cụ mạnh nhất để chuyển tư duy từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo thị trường”.
Vấn đề tiếp theo là hạ tầng công nghiệp văn hóa. Dự thảo đã đưa vào khái niệm cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa. Đây là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, hạ tầng sáng tạo không nên bị hiểu đơn giản là xây một khu nhà rồi cho doanh nghiệp thuê. Một hạ tầng công nghiệp văn hóa đúng nghĩa phải là nơi tập trung dòng người, dòng vốn, dòng tri thức, công nghệ và thị trường. Nó cần studio, không gian thử nghiệm, đào tạo, trình diễn, triển lãm, sản xuất, thương mại, lưu trú ngắn hạn, dịch vụ pháp lý, sở hữu trí tuệ, tài chính, truyền thông và không gian công cộng. Nếu chỉ xây “khu công nghiệp văn hóa” theo mô hình bất động sản rồi áp thêm nhãn văn hóa, chúng ta sẽ tạo ra bất động sản mới chứ chưa chắc tạo ra hệ sinh thái sáng tạo.
Đặc biệt, cần tránh để điều kiện về đất đai và quy hoạch trở thành nút thắt của mô hình này. Trong thực tiễn, những không gian sáng tạo thường xuất hiện từ những nhà máy cũ, nhà kho, công trình bỏ trống, tầng trệt, nhà ở cũ, khu phố cũ hoặc những tài sản chưa được khai thác hiệu quả. Pháp luật nên cho phép chuyển đổi công năng có kiểm soát, với tiêu chuẩn an toàn, môi trường và phòng cháy rõ ràng, thay vì buộc mọi mô hình sáng tạo phải chờ một dự án đầu tư mới, một khu đất mới và một quy hoạch mới. Nghị định 282/2026/NĐ-CP đã bước đầu cụ thể hóa các loại hình cụm, khu và tổ hợp sáng tạo văn hóa, trong đó có mô hình chuyển đổi công năng công trình và quy định thời hạn giải quyết hồ sơ ở cấp tỉnh. Nhưng chính điều đó cũng cho thấy cần tiếp tục đơn giản hóa để hạ tầng sáng tạo có thể hình thành từ dưới lên, không phải chỉ từ những dự án được Nhà nước hoặc nhà đầu tư lớn đề xuất.
Về thủ tục hành chính, cần thực hiện một nguyên tắc rất rõ: hoạt động sáng tạo có rủi ro thấp thì hậu kiểm; hoạt động có rủi ro cao mới tiền kiểm; những hoạt động chưa có quy định thì được thử nghiệm có kiểm soát. Dự thảo đã có xu hướng chuyển một số hoạt động từ tiền kiểm từng sự kiện sang tiền kiểm theo chu kỳ trong tổ hợp sáng tạo văn hóa, đây là hướng đáng khuyến khích. Nhưng cần đưa nguyên tắc này lên thành nguyên tắc chung của đạo luật, thay vì chỉ áp dụng cho một số mô hình không gian cụ thể.
Mỗi thủ tục phải có thời hạn rõ ràng, cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, tiêu chí quyết định rõ ràng và cơ chế “im lặng là chấp thuận” hoặc cơ chế tự động đối với những trường hợp đủ điều kiện nên được nghiên cứu. Không thể để một startup văn hóa mất vài tháng chỉ để chờ một xác nhận hành chính trong khi vòng đời sản phẩm của họ có thể chỉ vài tuần hoặc vài tháng. Công nghiệp văn hóa cần tốc độ, trong khi bộ máy hành chính thường được thiết kế để kiểm soát rủi ro. Hai logic này phải được thiết kế lại để có thể cùng tồn tại.
Một vấn đề đặc biệt cần được sửa là vị trí pháp lý của cá nhân sáng tạo, nhóm sáng tạo và doanh nghiệp siêu nhỏ. Đây có thể là “tầng đáy” nhưng lại là nơi sản sinh phần lớn ý tưởng mới. Nếu chính sách chủ yếu thiết kế cho doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc dự án có quy mô lớn, luật sẽ vô tình hỗ trợ những chủ thể đã trưởng thành thay vì giúp hình thành lớp doanh nghiệp mới. Trong thực tế, một nhóm bốn người làm phim, một studio thiết kế ba người, một nhóm phát triển trò chơi, một nghệ nhân, một nhà thiết kế độc lập hay một nhóm kiến trúc sư có thể tạo ra tài sản trí tuệ rất lớn nhưng chưa có doanh thu, tài sản thế chấp hay bộ máy kế toán đủ mạnh.
Do đó, cần thiết kế “hộ chiếu sáng tạo” hoặc “tài khoản sáng tạo” cho cá nhân và nhóm sáng tạo, gắn với mã định danh, danh mục tài sản trí tuệ, lịch sử dự án và quyền tiếp cận một số dịch vụ hỗ trợ. Thủ tục phải cực kỳ đơn giản. Một cá nhân có thể được ghi nhận là chủ thể sáng tạo mà không nhất thiết phải thành lập doanh nghiệp ngay. Khi sản phẩm trưởng thành và có hoạt động thương mại, họ có thể chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp phù hợp. Như vậy, luật sẽ tạo ra đường dẫn từ cá nhân sáng tạo → nhóm sáng tạo → startup → doanh nghiệp → doanh nghiệp xuất khẩu, thay vì yêu cầu tất cả phải bước vào thị trường bằng hình thức doanh nghiệp ngay từ đầu.
Về nhân lực, cũng cần tránh tư duy chỉ đào tạo thêm các ngành văn hóa truyền thống. Công nghiệp văn hóa cần những con người có khả năng kết nối nghệ thuật với kinh doanh, công nghệ, pháp luật, tài chính, marketing, dữ liệu, sản xuất và quản trị tài sản trí tuệ. Dự thảo đã đề cập đến đào tạo nhân lực có kỹ năng liên ngành, có khả năng kết nối nhiều công đoạn hoặc toàn bộ chuỗi giá trị. Cần biến nguyên tắc này thành chương trình cụ thể: cho phép doanh nghiệp cùng tham gia xây dựng chương trình đào tạo, công nhận kinh nghiệm nghề nghiệp, đào tạo theo dự án, đặt hàng đào tạo và đưa chuyên gia thực hành vào trường đại học. Một người có thể là nhà thiết kế nhưng đồng thời phải hiểu thị trường; một nhà sản xuất nội dung phải hiểu bản quyền; một nghệ sĩ muốn thương mại hóa sản phẩm phải hiểu tài chính và hợp đồng. Nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa phải là nguồn nhân lực lai, không phải nguồn nhân lực đơn ngành.
Về thị trường, dự thảo cần mạnh hơn nữa. Có sàn giao dịch công nghiệp văn hóa là tốt, nhưng không nên giả định rằng cứ có một “sàn” thì thị trường sẽ xuất hiện. Thị trường cần thanh khoản, thông tin, người mua, người bán, cơ chế định giá, tiêu chuẩn giao dịch, giải quyết tranh chấp và niềm tin. Nếu xây một nền tảng giao dịch nhưng không có giao dịch thật thì đó chỉ là một hệ thống công nghệ. Vì vậy, cần ưu tiên xây dựng hạ tầng thị trường, bao gồm dữ liệu giao dịch, chuẩn hợp đồng, cơ chế cấp phép quyền khai thác, cơ chế chia sẻ doanh thu, định giá, bảo hiểm, giải quyết tranh chấp và khả năng giao dịch xuyên biên giới.
Đặc biệt, cần bổ sung tư duy chuỗi giá trị và sản phẩm phái sinh. Một bộ phim không chỉ tạo ra doanh thu phòng vé; nó có thể tạo nhân vật, âm nhạc, trò chơi, đồ chơi, thời trang, du lịch, triển lãm, sách và các sản phẩm số. Một thiết kế có thể trở thành thương hiệu. Một công trình kiến trúc có thể trở thành điểm đến văn hóa. Một di sản có thể tạo ra thiết kế, thời trang, phim ảnh, trò chơi, du lịch và giáo dục. Vì vậy, luật phải tạo điều kiện để một tài sản văn hóa có thể được tái sáng tạo và khai thác nhiều tầng, thay vì quản lý từng sản phẩm một cách rời rạc.
Đối với khái niệm “tài sản trí tuệ gốc trọng điểm” và “sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm”, cần xác lập cơ chế động, minh bạch và cạnh tranh. Không nên tạo một danh sách cố định do cơ quan quản lý quyết định rồi sau đó doanh nghiệp phải xin để được đưa vào danh sách. Có thể thiết kế cơ chế đánh giá dựa trên doanh thu, mức độ sử dụng, khả năng xuất khẩu, lượng khán giả, số lượng sản phẩm phái sinh, tác động văn hóa, mức độ đổi mới và khả năng tạo việc làm. Quan trọng nhất là không để danh hiệu trở thành tài sản độc quyền của một nhóm doanh nghiệp.
Đối với “hàm lượng bản sắc Việt Nam”, cần có một cách tiếp cận mềm hơn. Bản sắc không nên được đo bằng tỷ lệ sử dụng biểu tượng truyền thống. Có thể đánh giá thông qua nguồn nguyên liệu văn hóa, câu chuyện, ngôn ngữ, tri thức bản địa, nhân vật, chất liệu, không gian, kỹ thuật, phương thức sáng tạo hoặc đóng góp vào hình ảnh Việt Nam. Nhưng tốt nhất, đây nên là một tiêu chí cộng điểm hoặc ưu tiên, không phải điều kiện cứng để một sản phẩm được xem là công nghiệp văn hóa.
Một điểm nữa cần đặc biệt lưu ý là phân quyền. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu mọi quyết định quan trọng đều tập trung ở Trung ương. Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế hay các địa phương có điều kiện văn hóa khác nhau cần có quyền thử nghiệm những mô hình riêng. Luật nên tạo ra không gian chính sách địa phương, trong đó địa phương được quyền thí điểm về không gian sáng tạo, sử dụng tài sản công, kinh tế đêm, sự kiện văn hóa, chuyển đổi công năng, đặt hàng sáng tạo và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong phạm vi luật cho phép. Nếu một mô hình thành công, có thể nhân rộng. Đây chính là cách biến Việt Nam thành một phòng thí nghiệm chính sách công nghiệp văn hóa, thay vì chờ Trung ương thiết kế một mô hình hoàn chỉnh cho toàn quốc.
Đồng thời phải làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch không thể một mình điều hành một ngành liên quan đến đất đai, tài chính, thuế, tín dụng, công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương mại, giáo dục, du lịch và đô thị. Luật cần xác định Bộ VHTTDL là cơ quan kiến tạo chính sách và điều phối hệ sinh thái, nhưng không biến Bộ thành “cửa ngõ” của mọi thủ tục. Những việc thuộc thẩm quyền chuyên ngành nào thì thực hiện theo cơ chế một cửa và chịu trách nhiệm của cơ quan chuyên ngành đó. Điều cần thiết là một đầu mối phục vụ doanh nghiệp, chứ không phải nhiều đầu mối mà doanh nghiệp phải tự đi kết nối.
Một nguyên tắc khác cần được đưa vào Luật là đánh giá chính sách bằng kết quả. Không thể đánh giá Luật thành công bằng số lượng doanh nghiệp được công nhận, số hồ sơ tài sản trí tuệ được lập, số khu sáng tạo được thành lập hay số hội nghị được tổ chức. Phải đo bằng những gì thực sự xảy ra trong nền kinh tế: số lượng sản phẩm văn hóa mới, doanh thu, xuất khẩu, việc làm sáng tạo, thu nhập của người sáng tạo, vốn tư nhân huy động được, số tài sản trí tuệ được thương mại hóa, số sản phẩm được cấp phép, số doanh nghiệp tăng trưởng, số sản phẩm Việt Nam đi ra quốc tế và mức độ tham gia của khu vực tư nhân. Mục tiêu công nghiệp văn hóa được đặt ở mức tối thiểu 7% GDP vào năm 2030 càng làm cho yêu cầu này trở nên cấp thiết.
Một đạo luật phát triển cũng phải có cơ chế tự đánh giá và tự sửa. Sau hai hoặc ba năm cần có đánh giá độc lập về những chính sách nào thực sự tạo ra tăng trưởng, chính sách nào chỉ tạo ra thủ tục, nhóm doanh nghiệp nào được hưởng lợi, nhóm nào bị bỏ lại, bao nhiêu vốn tư nhân được huy động trên một đồng ngân sách và bao nhiêu tài sản trí tuệ được thương mại hóa. Những chính sách không tạo ra kết quả phải được tự động xem xét sửa đổi. Như vậy, Luật sẽ trở thành một hệ thống biết học, chứ không phải một văn bản được ban hành rồi gần như bất biến.
Điểm cuối cùng, và có lẽ là quan trọng nhất, là phải thay đổi quan niệm về vai trò của Nhà nước. Nhà nước không nên trở thành nhà sản xuất văn hóa lớn nhất, nhà đầu tư văn hóa lớn nhất hay người quyết định sản phẩm văn hóa nào thành công. Nhà nước phải làm những việc mà thị trường không thể tự làm hoặc làm không đủ: tạo luật chơi công bằng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng hạ tầng dùng chung, tạo vốn mồi, chia sẻ rủi ro ban đầu, mở dữ liệu, đặt hàng sản phẩm, tạo không gian thử nghiệm, bảo vệ cạnh tranh, hỗ trợ xuất khẩu và kết nối thị trường quốc tế.
Đó là sự khác biệt giữa Nhà nước hỗ trợ một ngành và Nhà nước kiến tạo một hệ sinh thái.
Vì vậy, kiến nghị quan trọng nhất đối với Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không phải là bổ sung thêm thật nhiều chính sách ưu đãi. Ngược lại, cần tinh lọc các cơ chế ưu đãi, giảm điều kiện xin – cho, giảm hồ sơ, giảm tầng nấc thẩm định và chuyển trọng tâm sang những công cụ tạo thị trường. Một luật tốt không nhất thiết phải quy định Nhà nước sẽ làm gì cho từng doanh nghiệp; luật phải tạo ra một môi trường trong đó doanh nghiệp, cá nhân sáng tạo và nhà đầu tư có thể tự làm được nhiều việc hơn mà không phải xin phép Nhà nước cho những việc có rủi ro thấp.
Có thể hình dung lại toàn bộ triết lý của Luật theo một chuỗi rất đơn giản: Nhà nước không chọn người thắng; Nhà nước tạo sân chơi để người sáng tạo có thể thi đấu. Nhà nước không quyết định sản phẩm nào được yêu thích; Nhà nước bảo đảm người sáng tạo được quyền sở hữu và hưởng thành quả. Nhà nước không cấp tiền để duy trì hoạt động; Nhà nước tạo vốn mồi và thị trường để hoạt động có khả năng tự phát triển. Nhà nước không quản lý từng ý tưởng; Nhà nước quản lý rủi ro thực tế. Nhà nước không tạo thêm hồ sơ; Nhà nước tạo hạ tầng dữ liệu. Nhà nước không chỉ bảo tồn tài nguyên văn hóa; Nhà nước tạo điều kiện để tài nguyên đó được chuyển hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế mới.
Nếu làm được như vậy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ thực sự trở thành đạo luật mở đường cho một ngành kinh tế mới. Nếu không, nguy cơ là chúng ta sẽ có một nghịch lý rất lớn: một đạo luật được xây dựng để giải phóng sức sáng tạo nhưng lại tạo ra một hệ thống thủ tục khiến người sáng tạo phải dành nhiều thời gian hơn cho việc chứng minh mình đủ điều kiện được sáng tạo.
Cần đặc biệt tránh kết quả đó.
Bởi công nghiệp văn hóa không lớn lên nhờ số lượng văn bản quản lý. Nó lớn lên khi một ý tưởng có thể nhanh chóng trở thành sản phẩm; một sản phẩm có thể trở thành tài sản trí tuệ; một tài sản trí tuệ có thể trở thành vốn; vốn có thể trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường; thị trường có thể tạo doanh thu; doanh thu quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo; và sáng tạo mới tiếp tục tạo ra những giá trị văn hóa mới cho xã hội.
Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo xem xét định vị lại Dự thảo Luật theo một nguyên tắc xuyên suốt: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải là luật về năng lực tạo giá trị, không phải luật về năng lực quản lý hoạt động văn hóa. Quản lý chỉ là điều kiện bảo đảm; phát triển mới là mục tiêu. Thủ tục chỉ nên tồn tại khi nó bảo vệ được một lợi ích công cụ thể; còn nếu một thủ tục không tạo thêm giá trị, không giảm rủi ro đáng kể và không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của xã hội thì cần được loại bỏ.
Đây cũng là cách để hiện thực hóa đúng tinh thần mà chính cơ quan soạn thảo đã đặt ra: chuyển hóa tài nguyên văn hóa, năng lực sáng tạo và tài sản trí tuệ thành sức mạnh kinh tế, hình thành hệ sinh thái sáng tạo và đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới.
Một đạo luật tốt không phải là đạo luật quản lý được nhiều hơn, mà là đạo luật khiến xã hội có thể làm được nhiều hơn, nhanh hơn, sáng tạo hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn. Với công nghiệp văn hóa, nguyên tắc ấy càng phải được đặt ở vị trí trung tâm, bởi thứ mà chúng ta đang quản lý cuối cùng không phải là một ngành kinh tế thông thường, mà là năng lực sáng tạo của cả xã hội và khả năng biến trí tưởng tượng của con người Việt Nam thành tài sản, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường, việc làm, bản sắc và sức mạnh mềm của quốc gia.
Nếu nhìn Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đúng với bản chất của nó, thì điều quan trọng nhất không phải là luật quy định Nhà nước quản lý thêm được bao nhiêu, mà là sau khi có luật, người dân và doanh nghiệp làm được thêm bao nhiêu việc mà trước đây họ không làm được. Đây phải là nguyên tắc xuất phát điểm. Công nghiệp văn hóa là một nền kinh tế dựa trên trí tưởng tượng, tài năng, bản sắc, tri thức và tài sản trí tuệ; vì vậy, nếu Nhà nước dùng tư duy quản lý hành chính truyền thống để điều tiết nó, rất dễ xảy ra nghịch lý là càng muốn “phát triển” thì càng tạo thêm thủ tục, càng nhiều chính sách hỗ trợ thì doanh nghiệp càng phải chứng minh, càng nhiều cơ chế ưu đãi thì càng nhiều cửa phải đi qua. Một đạo luật như vậy có thể rất đầy đủ về mặt quản lý nhưng lại yếu về năng lực phát triển. Vì thế, cần quán triệt một hệ nguyên tắc mới: Nhà nước không đứng trước người sáng tạo để kiểm soát, mà đứng phía sau để mở đường, giảm rủi ro, bảo vệ quyền và đưa nguồn lực đến nơi thị trường chưa tự đến được.
Nguyên tắc đầu tiên phải là lấy lợi ích của người dân, người sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm của thiết kế chính sách. Mọi điều khoản nên được kiểm nghiệm bằng một câu hỏi rất đơn giản: “Quy định này giúp chủ thể sáng tạo làm được gì tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn hoặc an toàn hơn?”. Nếu câu trả lời là không có, cần xem xét lại sự cần thiết của quy định đó. Không thể lấy việc cơ quan quản lý có thêm dữ liệu, thêm hồ sơ, thêm thẩm quyền hay thêm công cụ kiểm tra làm thước đo của một đạo luật phát triển. Thước đo phải là thời gian gia nhập thị trường giảm bao nhiêu, chi phí tuân thủ giảm bao nhiêu, số lượng sản phẩm mới tăng bao nhiêu, vốn tư nhân chảy vào ngành tăng bao nhiêu, tài sản trí tuệ được thương mại hóa bao nhiêu và thu nhập của người sáng tạo được cải thiện như thế nào.
Từ nguyên tắc đó phải hình thành một nguyên tắc thứ hai: mọi thủ tục hành chính mới phải chứng minh được giá trị của nó. Không nên mặc định rằng một chính sách mới phải đi cùng một bộ hồ sơ mới. Nếu Nhà nước muốn doanh nghiệp được hưởng ưu đãi, trước tiên hãy thiết kế một cơ chế xác định tự động dựa trên dữ liệu thuế, đăng ký doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và kết quả hoạt động. Nếu đã có dữ liệu thì không bắt doanh nghiệp khai lại. Nếu một thông tin đã được cơ quan nhà nước xác nhận thì không yêu cầu doanh nghiệp mang giấy tờ đó đi xác nhận lần thứ hai. Đây phải là nguyên tắc “Nhà nước có dữ liệu thì Nhà nước tự khai thác; người dân không phải khai lại thông tin mà Nhà nước đã có”.
Đồng thời phải áp dụng nguyên tắc một lần cung cấp thông tin, nhiều lần sử dụng. Người sáng tạo đăng ký tài sản trí tuệ một lần thì dữ liệu đó, trong phạm vi pháp luật cho phép, có thể phục vụ định danh tài sản, giao dịch, vay vốn, cấp phép khai thác, thống kê và đánh giá chính sách. Doanh nghiệp đăng ký một lần thì không nên phải nộp lại cùng một bộ hồ sơ cho nhiều cơ quan. Đây không chỉ là cải cách thủ tục; nó là điều kiện để công nghiệp văn hóa có tốc độ tương xứng với nền kinh tế số.
Nguyên tắc thứ ba là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Đây phải là một nguyên tắc nền tảng của Luật, chứ không chỉ là một cơ chế áp dụng cho một vài tổ hợp sáng tạo. Những hoạt động có nguy cơ trực tiếp đối với an toàn, sức khỏe, an ninh hoặc quyền lợi của người khác thì Nhà nước có quyền tiền kiểm chặt chẽ. Nhưng đối với những hoạt động sáng tạo có rủi ro thấp, đặc biệt là các hoạt động thử nghiệm, biểu diễn, thiết kế, nội dung số, triển lãm, không gian sáng tạo nhỏ, sản phẩm mới chưa có tiền lệ, Nhà nước nên cho phép làm trước trong khuôn khổ pháp luật và kiểm tra bằng kết quả thực tế. Càng ít rủi ro thì càng ít thủ tục; càng có lịch sử tuân thủ tốt thì càng được đơn giản hóa. Đây là cách biến quản lý nhà nước thành một hệ thống thông minh thay vì một hệ thống đồng loạt áp cùng một mức kiểm soát cho tất cả.
Nguyên tắc thứ tư là không quản lý cái chưa gây ra rủi ro. Một trong những bệnh phổ biến của quản lý hành chính là cố gắng dự liệu mọi khả năng có thể xảy ra bằng cách đặt ra quy định trước. Nhưng công nghiệp văn hóa lại liên tục tạo ra những thứ chưa từng tồn tại. Nếu luật chỉ cho phép những gì đã được định danh, thì luật sẽ luôn đi sau sáng tạo. Vì vậy, cần có nguyên tắc: những gì pháp luật không cấm và không gây rủi ro đáng kể thì được phép thử nghiệm, đồng thời xây dựng cơ chế sandbox cho những mô hình mới chưa có quy định đầy đủ. Đây là cách để luật không trở thành chiếc hộp đóng kín đối với sáng tạo.
Nguyên tắc thứ năm là Nhà nước hỗ trợ đầu vào nhưng không can thiệp tùy tiện vào kết quả thị trường. Nhà nước có thể hỗ trợ hạ tầng, dữ liệu, đào tạo, vốn mồi, không gian sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại, kết nối quốc tế và chia sẻ một phần rủi ro. Nhưng Nhà nước không nên quyết định thay công chúng rằng sản phẩm nào hay, nghệ sĩ nào giỏi, doanh nghiệp nào sẽ thành công hoặc xu hướng văn hóa nào phải phát triển. Thị trường và công chúng phải có quyền lựa chọn. Nhà nước nên tạo sân chơi chứ không chọn người thắng.
Từ đó cần phá bỏ tư duy “xin được công nhận để được hỗ trợ”. Chính sách ưu đãi không nên phụ thuộc quá nhiều vào việc doanh nghiệp phải xin xác nhận mình thuộc nhóm “trọng điểm”, sản phẩm có “hàm lượng bản sắc” đủ cao hay tài sản trí tuệ đã được cơ quan nào đó xác nhận là đặc biệt. Những khái niệm như bản sắc, sáng tạo, giá trị văn hóa cần được sử dụng để định hướng chính sách, nhưng không nên biến chúng thành những chiếc cửa hành chính tùy nghi. Càng nhiều khái niệm định tính được trao cho cơ quan hành chính quyết định, nguy cơ xin – cho càng lớn. Tiêu chí càng rõ, càng đo được, càng tự động thì không gian xin – cho càng nhỏ.
Nguyên tắc thứ sáu là ưu đãi phải dựa trên hoạt động và kết quả, không dựa trên danh hiệu. Một doanh nghiệp tạo ra sản phẩm văn hóa Việt Nam có khả năng xuất khẩu, tạo việc làm, đầu tư nghiên cứu, phát triển tài sản trí tuệ và tạo doanh thu thì phải được hưởng chính sách theo những kết quả đó. Không nhất thiết phải qua nhiều vòng để được công nhận là “doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trọng điểm”. Tương tự, một cá nhân sáng tạo có tài sản trí tuệ có giá trị không nên bị loại khỏi chính sách chỉ vì chưa thành lập doanh nghiệp. Chính sách phải đi theo giá trị được tạo ra, chứ không bắt giá trị phải đi qua một hình thức hành chính cố định.
Nguyên tắc thứ bảy là Nhà nước phải chia sẻ rủi ro thị trường thay vì chỉ yêu cầu doanh nghiệp tự chịu rủi ro. Công nghiệp văn hóa có đặc điểm là nhiều dự án thất bại nhưng một số ít dự án thành công có thể tạo ra giá trị rất lớn. Đây là đặc tính của kinh tế sáng tạo và kinh tế đổi mới. Nếu ngân hàng chỉ cho vay khi doanh nghiệp có tài sản thế chấp, thì phần lớn tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp văn hóa – ý tưởng, bản quyền, thương hiệu, nội dung, thiết kế – sẽ không được chuyển hóa thành vốn. Nhà nước vì vậy cần tham gia ở phần rủi ro mà thị trường chưa đủ khả năng hấp thụ: bảo lãnh một phần, quỹ đồng đầu tư, vốn mồi, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu, bảo hiểm rủi ro hoặc các cơ chế tài chính tương tự. Mục tiêu không phải là Nhà nước cấp tiền thay thị trường, mà là dùng một lượng vốn công hữu hạn để kéo một lượng vốn tư nhân lớn hơn vào ngành.
Nguyên tắc thứ tám là biến Nhà nước thành một khách hàng của công nghiệp văn hóa, chứ không chỉ là cơ quan hỗ trợ. Đây là một thay đổi rất đáng kể. Nhà nước có nhu cầu rất lớn về kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật công cộng, bảo tàng, triển lãm, nội dung số, phim tài liệu, xuất bản, giáo dục văn hóa, số hóa di sản, không gian công cộng và nhiều sản phẩm sáng tạo khác. Thay vì tổ chức những chương trình hỗ trợ nhỏ lẻ, Nhà nước có thể đặt hàng sản phẩm thông qua cạnh tranh công khai. Một doanh nghiệp thắng một hợp đồng cung cấp sản phẩm sáng tạo cho Nhà nước sẽ có doanh thu thực tế, khách hàng tham chiếu và năng lực để bước ra thị trường lớn hơn. Mua sắm công vì vậy có thể trở thành một chính sách công nghiệp văn hóa mạnh hơn rất nhiều so với trợ cấp đơn thuần.
Nguyên tắc thứ chín là Nhà nước phải tạo hạ tầng dùng chung mà doanh nghiệp nhỏ không đủ khả năng tự xây dựng. Đây là nơi Nhà nước có lợi thế thực sự. Nhà nước có thể xây dựng dữ liệu thị trường, cơ sở dữ liệu tài sản trí tuệ, không gian thử nghiệm, phòng lab, studio dùng chung, hạ tầng số, trung tâm trình diễn, mạng lưới xúc tiến quốc tế, hệ thống thông tin bản quyền, cơ chế định giá và nền tảng kết nối. Nhưng phải phân biệt rất rõ giữa hạ tầng công nghiệp văn hóa và bất động sản mang tên công nghiệp văn hóa. Không phải cứ xây một khu nhà rồi đặt tên “khu sáng tạo” là đã tạo ra hệ sinh thái sáng tạo. Hạ tầng phải giúp một người có ý tưởng tiếp cận được thiết bị, chuyên gia, vốn, thị trường, pháp lý và khách hàng.
Nguyên tắc thứ mười là trao quyền cho địa phương thử nghiệm. Công nghiệp văn hóa phụ thuộc rất mạnh vào đặc điểm của từng nơi. Thành phố Hồ Chí Minh không giống Huế; Hà Nội không giống Đà Nẵng; Hội An không giống một tỉnh miền núi; đồng bằng sông Cửu Long lại có một hệ tài nguyên văn hóa khác. Nếu mọi mô hình đều phải được thiết kế từ Trung ương thì không thể khai thác được sự đa dạng này. Luật nên tạo ra một hành lang để địa phương chủ động thí điểm về không gian sáng tạo, tài sản công, kinh tế đêm, chuyển đổi công năng, sự kiện, chợ sáng tạo, khu phố văn hóa, du lịch văn hóa và các mô hình kinh doanh mới. Trung ương xây dựng nguyên tắc và giới hạn rủi ro; địa phương được quyền thử nghiệm trong phạm vi đó.
Nguyên tắc thứ mười một là tài sản công phải được nhìn như nguồn lực phát triển, không chỉ như thứ phải bảo vệ khỏi rủi ro. Đây là một điểm nghẽn rất lớn. Việt Nam có nhiều nhà văn hóa, nhà hát, bảo tàng, nhà kho, công trình cũ, khu đất và tài sản công chưa được sử dụng hiệu quả. Nếu cơ chế pháp lý chỉ khiến cơ quan quản lý sợ sai và không dám cho thuê, hợp tác, chuyển đổi hoặc khai thác, tài sản sẽ tiếp tục nằm im. Cần thiết kế cơ chế hợp tác minh bạch, đấu giá hoặc tuyển chọn cạnh tranh, định giá rõ ràng, chia sẻ lợi ích và hậu kiểm để có thể đưa tài sản công vào hệ sinh thái sáng tạo mà vẫn bảo đảm chống thất thoát. Bảo vệ tài sản công không có nghĩa là để tài sản công chết trong trạng thái không sử dụng.
Nguyên tắc thứ mười hai là bảo vệ người sáng tạo trước khi yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Người sáng tạo cần được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền nhận thù lao, quyền được ghi nhận, quyền thương lượng hợp đồng và quyền khai thác tài sản của mình. Khi quyền tài sản chưa được bảo vệ tốt, mọi chính sách hỗ trợ phía sau đều có hiệu quả hạn chế. Một nhà thiết kế không thể biến thiết kế thành tài sản nếu bản quyền dễ bị sao chép. Một nhà làm phim không thể đầu tư dài hạn nếu quyền khai thác không rõ. Một studio game không thể gọi vốn tốt nếu tài sản trí tuệ không được định danh và bảo vệ. Vì vậy, bảo vệ quyền tài sản trí tuệ phải được coi là chính sách phát triển kinh tế, không chỉ là nhiệm vụ quản lý văn hóa.
Nguyên tắc thứ mười ba là thiết kế chính sách theo vòng đời của chủ thể sáng tạo. Một người có ý tưởng không giống một startup mới thành lập; startup không giống doanh nghiệp đang tăng trưởng; doanh nghiệp trong nước không giống doanh nghiệp xuất khẩu. Chính sách phải tạo thành một con đường liên tục từ ý tưởng đến thử nghiệm, từ thử nghiệm đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, từ doanh nghiệp đến thị trường quốc tế. Không thể để người sáng tạo phải bắt đầu lại từ đầu mỗi khi chuyển sang một giai đoạn phát triển mới.
Nguyên tắc thứ mười bốn là mọi chính sách hỗ trợ phải có “lối ra”. Một chính sách tốt không phải là chính sách giữ doanh nghiệp trong trạng thái được trợ cấp mãi mãi. Hỗ trợ ban đầu phải giúp doanh nghiệp đứng được bằng đôi chân của mình. Sau một khoảng thời gian, doanh nghiệp phải chuyển từ vốn công sang vốn tư nhân, từ thị trường trong nước sang thị trường quốc tế, từ trợ cấp sang doanh thu. Nhà nước cần đo tỷ lệ vốn tư nhân huy động được trên một đồng ngân sách, số doanh nghiệp trưởng thành sau hỗ trợ và doanh thu mới được tạo ra. Nếu một chương trình hỗ trợ chỉ tạo ra nhiều hồ sơ, nhiều hội thảo và nhiều báo cáo nhưng không tạo ra doanh nghiệp mạnh hơn thì chương trình đó cần được loại bỏ.
Nguyên tắc thứ mười lăm là mỗi chính sách mới phải đi kèm một cơ chế kiểm soát “chi phí tuân thủ”. Đây là điều rất nên được ghi thẳng vào Luật. Khi ban hành một quy định mới, cơ quan soạn thảo phải đánh giá doanh nghiệp mất bao nhiêu thời gian, bao nhiêu tiền, cần bao nhiêu nhân lực và bao nhiêu lần tiếp xúc với cơ quan quản lý. Không thể chỉ đánh giá lợi ích quản lý mà bỏ qua chi phí xã hội. Nếu một chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 100 đồng nhưng khiến doanh nghiệp phải bỏ 50 đồng để chứng minh điều kiện, chính sách đó cần được thiết kế lại. Một đồng hỗ trợ không nên tạo ra một đồng chi phí hành chính.
Nguyên tắc cuối cùng là đánh giá luật bằng sự thay đổi trong đời sống chứ không bằng số lượng quy định. Sau khi luật có hiệu lực, câu hỏi quan trọng không phải là có bao nhiêu nghị định, thông tư, bao nhiêu cơ sở dữ liệu hay bao nhiêu doanh nghiệp được công nhận. Câu hỏi phải là: người sáng tạo có dễ bắt đầu hơn không, doanh nghiệp có dễ tiếp cận vốn hơn không, tài sản trí tuệ có dễ thương mại hóa hơn không, thời gian xin phép có giảm không, không gian sáng tạo có tăng không, doanh thu ngành có tăng không, số sản phẩm Việt Nam ra thế giới có tăng không và thu nhập của người làm sáng tạo có tăng không.
Từ toàn bộ các nguyên tắc trên, có thể xác lập một “nguyên tắc vàng” cho Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: mọi quy định phải trả lời được ba câu hỏi: Nhà nước đang bảo vệ lợi ích công nào; quy định này giúp người dân và doanh nghiệp làm được gì; và có cách nào đạt cùng mục tiêu với ít thủ tục hơn hay không? Nếu không trả lời được ba câu hỏi ấy, quy định không nên được đưa vào luật.
Và có lẽ cần đặt ra một sự thay đổi rất căn bản trong tư duy lập pháp: đừng hỏi trước rằng Nhà nước phải quản lý ngành công nghiệp văn hóa như thế nào; hãy hỏi Nhà nước đang cản trở điều gì, có thể tháo bỏ điều gì, có thể cung cấp điều gì, có thể chia sẻ rủi ro nào, có thể mở thị trường nào và có thể bảo vệ quyền nào để người dân và doanh nghiệp tự tạo ra giá trị.
Khi đó, Nhà nước sẽ chuyển từ vị trí “người gác cổng” sang “người mở đường”. Cơ quan quản lý không được đo bằng số lượng hồ sơ đã tiếp nhận và xử lý, mà bằng số lượng rào cản đã được tháo bỏ. Chính sách hỗ trợ không được đo bằng số tiền đã phân bổ, mà bằng số tiền tư nhân được huy động thêm và giá trị mới được tạo ra. Cơ sở dữ liệu không được đo bằng số trường thông tin đã thu thập, mà bằng số giao dịch và quyết định kinh tế mà nó giúp thực hiện. Không gian sáng tạo không được đo bằng số mét vuông xây dựng, mà bằng số người sáng tạo, doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường thực sự hình thành trong đó.
Đó mới là tinh thần của một Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: không phải làm cho Nhà nước mạnh hơn trong việc quản lý người sáng tạo, mà làm cho người sáng tạo mạnh hơn trong việc tạo ra giá trị cho xã hội; không phải tạo thêm một hệ thống để doanh nghiệp phải đi qua, mà tạo ra một hệ sinh thái để doanh nghiệp có thể đi xa hơn.
Tôi cho rằng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: không chỉ xây dựng thêm một đạo luật chuyên ngành, mà có thể trở thành một trong những đạo luật đầu tiên thể hiện rõ tư duy kiến tạo phát triển, đổi mới thể chế và giải phóng nguồn lực sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.
Chính vì vậy, vấn đề quan trọng nhất không phải là Dự thảo đã có đủ chính sách hay chưa, mà là cấu trúc pháp lý của Luật có thực sự làm cho người dân, người sáng tạo và doanh nghiệp dễ hành động hơn hay không.
Nếu một doanh nghiệp muốn mở một studio, một không gian nghệ thuật, một xưởng thiết kế, một trung tâm sáng tạo, một cơ sở sản xuất nội dung, một không gian biểu diễn hay một mô hình kết hợp văn hóa – thương mại mà phải đi qua nhiều cơ quan, xin nhiều loại xác nhận, chứng minh nhiều tiêu chí định tính và chờ nhiều hướng dẫn dưới luật, thì dù Luật có rất nhiều chính sách ưu đãi, trên thực tế vẫn chưa phải là một đạo luật phát triển.
Do đó, tôi kiến nghị Ban Soạn thảo thực hiện một cuộc “stress test” thể chế đối với toàn bộ Dự thảo: giả định một người trẻ có một ý tưởng sáng tạo, một nhóm kiến trúc sư muốn mở một không gian sáng tạo, một startup game muốn thương mại hóa sản phẩm, một doanh nghiệp muốn cải tạo một nhà máy cũ thành trung tâm văn hóa, một nghệ sĩ muốn tổ chức một chương trình mới, hoặc một nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào một ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Sau đó đặt câu hỏi: họ sẽ bị chặn ở đâu, phải xin ai, phải chứng minh điều gì, quy định nào chưa rõ, cơ quan nào có quyền diễn giải và nếu hai cơ quan hiểu khác nhau thì ai quyết định cuối cùng?
Chỉ cần thực hiện bài kiểm tra này, chúng ta sẽ nhìn thấy những “vùng xám” mà một đạo luật phát triển cần phải chủ động đóng lại.
Thứ nhất, phải phá vùng xám lớn nhất: “ai được coi là chủ thể của công nghiệp văn hóa?”
Nếu Luật xác định công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế dựa trên sáng tạo, tài sản trí tuệ và tài nguyên văn hóa thì chủ thể của ngành không thể chỉ được nhìn qua hình thức pháp lý là doanh nghiệp.
Một cá nhân có thể tạo ra một bộ phim. Một nhóm có thể tạo ra một trò chơi. Một kiến trúc sư có thể tạo ra một hệ thống thiết kế. Một studio vài người có thể sở hữu một thương hiệu toàn cầu. Một nghệ sĩ có thể sở hữu hàng nghìn tác phẩm số. Một cộng đồng có thể tạo ra một sản phẩm văn hóa địa phương.
Nếu pháp luật công nhận họ nhưng chính sách hỗ trợ lại chủ yếu thiết kế cho doanh nghiệp, thì quyền được thừa nhận và khả năng tiếp cận chính sách sẽ không đi cùng nhau.
Vì vậy, Luật cần xác lập rõ các tầng chủ thể: cá nhân sáng tạo, nhóm sáng tạo, hộ kinh doanh, tổ chức sáng tạo, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các hình thức hợp tác khác. Mỗi chủ thể phải có con đường tiếp cận chính sách phù hợp.
Không nên bắt một người có ý tưởng phải “trở thành doanh nghiệp” trước khi được pháp luật nhìn nhận là một chủ thể kinh tế sáng tạo.
Thứ hai, phải đóng vùng xám của khái niệm “bản sắc Việt Nam”.
Đây là một khái niệm rất quan trọng về mặt định hướng nhưng cực kỳ nhạy cảm về mặt pháp lý.
Nếu “hàm lượng bản sắc Việt Nam” được dùng để quyết định sản phẩm nào được hưởng ưu đãi, thì câu hỏi lập tức xuất hiện: ai đánh giá, đánh giá bằng tiêu chí nào, tỷ lệ bao nhiêu là đủ, sản phẩm đương đại có bắt buộc phải chứa yếu tố truyền thống không, sản phẩm sử dụng công nghệ toàn cầu nhưng được sáng tạo bởi người Việt có được coi là sản phẩm văn hóa Việt Nam không?
Nếu không làm rõ, đây có thể trở thành một vùng diễn giải rất rộng.
Tôi kiến nghị Luật không nên biến “bản sắc Việt Nam” thành một loại giấy chứng nhận hành chính. Bản sắc nên là một tiêu chí định hướng và một giá trị được khuyến khích, không phải một chiếc cửa để cơ quan quản lý quyết định ai được bước vào nền kinh tế sáng tạo.
Cần chuyển từ câu hỏi “sản phẩm này có đủ bản sắc Việt Nam không?” sang câu hỏi có thể kiểm chứng hơn: sản phẩm có sử dụng, phát triển, diễn giải, sáng tạo mới hoặc thương mại hóa giá trị văn hóa Việt Nam hay không; tỷ lệ tài sản trí tuệ thuộc chủ thể Việt Nam là bao nhiêu; giá trị kinh tế tạo ra tại Việt Nam thế nào; đóng góp cho bảo tồn, phát triển hoặc lan tỏa văn hóa ra sao.
Thứ ba, phải xử lý vùng xám của “sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm”.
Đây là một điểm rất quan trọng.
Nếu Nhà nước lập danh mục “trọng điểm”, rất dễ xuất hiện tình trạng thị trường phát triển theo danh mục hành chính. Một sản phẩm không nằm trong danh mục có thể bị xem là không được ưu tiên dù thực tế đang có thị trường rất lớn.
Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực thay đổi nhanh. Hôm nay có thể là game, ngày mai có thể là thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, thiết kế trải nghiệm, kiến trúc số, nền tảng nội dung mới mà cơ quan lập pháp chưa dự liệu.
Vì vậy, danh mục nếu có chỉ nên là danh mục mở, được cập nhật linh hoạt và không được hiểu là danh mục đóng của những ngành “được phép phát triển”.
Nguyên tắc phải là: không nằm trong danh mục không đồng nghĩa với không được hưởng quyền phát triển; nằm trong danh mục không đồng nghĩa đương nhiên được ưu đãi.
Thứ tư, phải phá vùng xám giữa “quản lý văn hóa” và “quản lý hoạt động kinh tế”.
Đây có lẽ là một trong những điểm nghẽn lớn nhất.
Một hoạt động có thể đồng thời là hoạt động văn hóa, kinh doanh, du lịch, giáo dục, công nghệ, thương mại, bất động sản và dịch vụ.
Ví dụ một không gian sáng tạo có thể có triển lãm, cà phê, bán sách, bán sản phẩm thiết kế, workshop, biểu diễn và thương mại điện tử. Nếu mỗi hoạt động lại bị quản lý theo một hệ thống giấy phép riêng thì mô hình kinh doanh tích hợp sẽ gần như không thể vận hành.
Luật cần xác lập nguyên tắc một hoạt động kinh tế tích hợp không được bị chia nhỏ thành nhiều thủ tục hành chính chỉ vì nó có nhiều thành phần văn hóa khác nhau.
Nhà nước cần xác định rủi ro thực tế của hoạt động, chứ không quản lý từng chức năng một cách cơ học.
Thứ năm, phải giải quyết vùng xám về không gian sáng tạo và chuyển đổi công năng.
Đây là điểm rất thực tế.
Việt Nam có rất nhiều nhà máy cũ, nhà kho, công trình công cộng, nhà phố, khu phố cũ, tài sản công chưa khai thác và không gian bỏ trống có thể trở thành studio, gallery, xưởng thiết kế, không gian biểu diễn, trung tâm sáng tạo.
Nhưng giữa “được sử dụng làm hoạt động văn hóa” và “được phép chuyển đổi công năng để hoạt động như một cơ sở kinh doanh văn hóa” thường tồn tại một khoảng trống pháp lý.
Luật cần quy định cơ chế chuyển đổi công năng có điều kiện đối với các không gian này, trên nguyên tắc bảo đảm an toàn, phòng cháy chữa cháy, môi trường và trật tự đô thị nhưng không yêu cầu biến một không gian sáng tạo nhỏ thành một công trình mới hoàn toàn theo tiêu chuẩn của một dự án xây dựng quy mô lớn.
Nếu không giải quyết được điểm này, chúng ta có thể có rất nhiều chính sách nói về “hệ sinh thái sáng tạo” nhưng lại không có nơi để hệ sinh thái đó tồn tại.
Thứ sáu, phải phá vùng xám giữa tài sản công và tài sản được phép khai thác.
Nhà nước đang có rất nhiều tài sản công có giá trị văn hóa nhưng chưa được khai thác hiệu quả.
Vấn đề không chỉ là “cho thuê” mà là hợp tác khai thác để tạo giá trị.
Luật cần mở đường cho các mô hình hợp tác công – tư, thuê vận hành, đồng đầu tư, khai thác có thời hạn, chia sẻ doanh thu hoặc chuyển đổi công năng có kiểm soát.
Đồng thời phải quy định rõ cơ chế định giá, lựa chọn đối tác, công khai thông tin, phân chia lợi ích và hậu kiểm.
Nếu cán bộ chỉ được bảo đảm an toàn khi “không làm gì”, thì tài sản công sẽ tiếp tục bị đóng băng.
Bảo vệ tài sản công phải được hiểu là bảo vệ giá trị của tài sản, chứ không phải bảo vệ trạng thái bất động của tài sản.
Thứ bảy, phải làm rõ quyền sử dụng tài sản trí tuệ để vay vốn.
Đây là một vùng xám rất lớn.
Luật có thể quy định tài sản trí tuệ được sử dụng làm tài sản bảo đảm, nhưng nếu ngân hàng không biết định giá thế nào, xử lý thế nào khi khoản vay mất khả năng thanh toán, bán tài sản trí tuệ cho ai và thị trường thứ cấp ở đâu thì quy định này khó đi vào thực tế.
Do đó, không thể chỉ quy định “được dùng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm”. Cần xây dựng cả chuỗi:
định danh → định giá → đăng ký → thế chấp → giám sát → xử lý khi phát sinh rủi ro → chuyển nhượng → thị trường thứ cấp.
Nếu thiếu một mắt xích, cả cơ chế sẽ khó vận hành.
Thứ tám, phải phá vùng xám “Nhà nước hỗ trợ bằng gì?”
Đây là vấn đề rất quan trọng.
Một đạo luật không thể liên tục sử dụng các cụm từ như “được hỗ trợ”, “được ưu đãi”, “được tạo điều kiện” nhưng phần quyết định thực chất lại giao cho văn bản dưới luật.
Cần phân biệt rõ quyền được hưởng chính sách và chương trình hỗ trợ tùy thuộc ngân sách.
Nếu là quyền thì phải có tiêu chí rõ, thủ tục đơn giản và cơ chế khiếu nại khi bị từ chối.
Nếu là chương trình ngân sách thì phải công khai ngân sách, tiêu chí lựa chọn, thời hạn, kết quả và trách nhiệm giải trình.
Không nên để một khoảng trống khiến doanh nghiệp biết mình “có chính sách” nhưng không biết khi nào được hưởng, ai quyết định và nếu bị từ chối thì dựa vào đâu để khiếu nại.
Thứ chín, phải chặn nguy cơ “xin – cho” trong việc xác định dự án trọng điểm.
Nếu một dự án muốn tiếp cận đất đai, tín dụng, thuế, không gian công cộng hoặc ưu đãi đầu tư mà phải được một cơ quan xác nhận là “dự án trọng điểm”, thì quyền quyết định thực chất sẽ tập trung vào khâu công nhận.
Đây chính là nơi có thể phát sinh lợi ích nhóm nếu tiêu chí không đủ minh bạch.
Tôi kiến nghị chuyển sang cơ chế điểm số và tiêu chí công khai, hạn chế tối đa quyết định chủ quan. Đồng thời công khai danh sách hồ sơ được hưởng ưu đãi và lý do được hưởng.
Không nên để doanh nghiệp phải “thuyết phục” cơ quan quản lý rằng mình đáng được hỗ trợ.
Thứ mười, phải quy định nguyên tắc “im lặng là đồng ý” hoặc cơ chế tự động đối với một số thủ tục rủi ro thấp.
Đây là một bước cải cách mạnh.
Nếu hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý không phản hồi trong thời hạn luật định thì đối với một số loại hoạt động rủi ro thấp, cần nghiên cứu cơ chế tự động có hiệu lực.
Nếu không thể áp dụng rộng, ít nhất phải quy định rõ thời hạn xử lý, một đầu mối tiếp nhận và trách nhiệm giải trình khi quá hạn.
Không thể gọi là kiến tạo nếu doanh nghiệp không biết hồ sơ của mình đang nằm ở đâu và phải chờ bao lâu.
Thứ mười một, phải xử lý xung đột giữa các luật.
Công nghiệp văn hóa không tồn tại riêng trong Luật Văn hóa.
Nó chạm vào đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư, doanh nghiệp, thuế, sở hữu trí tuệ, lao động, thương mại điện tử, công nghệ, du lịch, tài sản công, đấu thầu, ngân sách và môi trường.
Vì vậy, một điều khoản rất quan trọng nên được bổ sung là cơ chế xử lý xung đột pháp luật đối với hoạt động công nghiệp văn hóa.
Khi một mô hình sáng tạo đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, phải có cơ chế xác định cơ quan đầu mối và cách phối hợp. Không thể để doanh nghiệp tự đi giải quyết từng cơ quan.
Thứ mười hai, phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm cuối cùng.
Một trong những điểm nghẽn nguy hiểm nhất không phải là “không có quy định”, mà là có quá nhiều cơ quan cùng có một phần thẩm quyền.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài chính; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Công Thương; cơ quan quản lý đất đai, xây dựng; địa phương... đều có thể liên quan.
Luật cần có nguyên tắc một đầu mối chịu trách nhiệm điều phối đối với các dự án công nghiệp văn hóa liên ngành.
Doanh nghiệp không nên phải tự đóng vai “cơ quan điều phối liên bộ”.
Thứ mười ba, phải có cơ chế pháp lý cho những mô hình chưa được pháp luật dự liệu.
Đây là tinh thần quan trọng nhất của Nghị quyết 57.
Luật không thể biết trước toàn bộ sản phẩm sáng tạo trong 10–20 năm tới.
Do đó cần có một điều khoản về đổi mới sáng tạo trong công nghiệp văn hóa, cho phép thí điểm các mô hình, sản phẩm, phương thức kinh doanh mới trong phạm vi kiểm soát rủi ro.
Nếu pháp luật chưa quy định thì không được mặc nhiên hiểu là không được làm.
Nguyên tắc cần chuyển thành:
“Được thử nghiệm những hoạt động chưa có quy định cụ thể nếu không thuộc trường hợp bị cấm và có phương án kiểm soát rủi ro.”
Đây chính là cách pháp luật đi trước sáng tạo thay vì chạy theo sáng tạo.
Thứ mười bốn, phải phá vùng xám về dữ liệu.
Nếu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, cần xác định rất rõ: dữ liệu nào Nhà nước được thu thập; dữ liệu nào thuộc doanh nghiệp; dữ liệu nào là bí mật kinh doanh; dữ liệu nào được chia sẻ; dữ liệu nào được mở; ai được sử dụng và trách nhiệm bảo mật ra sao.
Nếu không làm rõ, doanh nghiệp sẽ lo ngại rằng chính sách phát triển lại trở thành một cơ chế thu thập dữ liệu quá mức.
Dữ liệu phải phục vụ phát triển, không phải biến thành nghĩa vụ báo cáo mới.
Thứ mười lăm, phải thay đổi cách Nhà nước đánh giá hiệu quả.
Đây là điểm tôi cho rằng rất cần bổ sung vào Luật.
Không nên đánh giá công nghiệp văn hóa bằng số hội nghị, số dự án được hỗ trợ, số hồ sơ được giải quyết hay số cơ sở dữ liệu được lập.
Cần đánh giá bằng giá trị kinh tế và xã hội thực tế: số doanh nghiệp mới, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ được thương mại hóa, vốn tư nhân huy động, xuất khẩu, khách quốc tế, thu nhập của người sáng tạo, mức độ sử dụng tài sản công và mức độ hình thành thị trường.
Nếu sau 5 năm ngân sách chi rất nhiều nhưng thị trường không phát triển thì chính sách phải được sửa.
Đây chính là tinh thần quản trị theo kết quả.
Một nguyên tắc rất quan trọng nên đưa thẳng vào Luật
Tôi đề nghị Ban Soạn thảo cân nhắc bổ sung một nguyên tắc có tính chất “khóa” để ngăn Luật và các văn bản dưới luật sau này tạo thêm điểm nghẽn:
“Không được ban hành quy định, thủ tục hoặc điều kiện làm hạn chế quyền sáng tạo, đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa nếu không chứng minh được sự cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, an toàn, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trường hợp có nhiều biện pháp để đạt cùng một mục tiêu quản lý thì phải lựa chọn biện pháp ít hạn chế hoạt động sáng tạo, ít chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.”
Nếu có thể đưa được nguyên tắc này vào Luật, nó sẽ tạo ra một “hàng rào chống hành chính hóa” rất quan trọng.
Bởi vấn đề lớn nhất của công nghiệp văn hóa không phải là thiếu người sáng tạo. Việt Nam có rất nhiều người tài. Cũng không phải thiếu tài nguyên văn hóa. Việt Nam có một kho tài nguyên khổng lồ. Cũng không phải hoàn toàn thiếu thị trường. Việt Nam có thị trường gần 100 triệu dân và nền tảng số phát triển mạnh. Chính Bộ cũng xác định các yếu tố này là nền tảng của công nghiệp văn hóa.
Điểm nghẽn nằm ở khả năng biến những nguồn lực đó thành giá trị kinh tế một cách nhanh chóng, hợp pháp, minh bạch và có khả năng mở rộng.
Vì vậy, Luật này nên được thiết kế theo một logic hoàn toàn khác:
Ý tưởng → được phép thử nghiệm → tạo sản phẩm → được bảo vệ tài sản trí tuệ → tiếp cận vốn → tiếp cận không gian → tiếp cận thị trường → mở rộng quy mô → xuất khẩu → tái đầu tư cho sáng tạo.
Ở mỗi mắt xích, Nhà nước phải tự hỏi: “Chúng ta đang mở đường hay đang dựng thêm một cánh cửa?”
Nếu Nhà nước không thể mở đường thì ít nhất đừng dựng thêm cửa.
Đó mới thực sự là tinh thần của Nghị quyết 57 khi đặt đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào vị trí động lực phát triển. Và cũng chính điều đó sẽ giúp Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đạt được mục tiêu mà chính cơ quan soạn thảo đang đặt ra: không chỉ tạo hành lang pháp lý, mà thực sự kiến tạo thị trường, kết nối chuỗi giá trị và khơi thông nguồn lực xã hội.
Một đạo luật phát triển tốt không phải là đạo luật quy định được nhiều nhất, mà là đạo luật khiến xã hội cần xin phép ít hơn, có quyền rõ hơn, rủi ro thấp hơn, đầu tư dễ hơn, sáng tạo nhanh hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn.