Trang chủ
Kính gửi UBND TPHCM / SỞ QHKT : Về việc đổi mới ...
Kính gửi UBND TPHCM / SỞ QHKT : Về việc đổi mới phương pháp tổ chức nghiên cứu, lập Đồ án Quy hoạch chung TP.HCM trong bối cảnh mới theo tinh thần NQ57,66,68,79.
THƯ KIẾN NGHỊ

Về việc đổi mới phương pháp tổ chức nghiên cứu, lập Đồ án Quy hoạch chung TP.HCM trong bối cảnh mới

Kính gửi: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đồng kính gửi: Sở Quy hoạch – Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh

Kính thưa Quý Lãnh đạo,

Trong quá trình nghiên cứu về quy hoạch, phát triển đô thị và những thay đổi rất nhanh của TP.HCM trong thời gian qua, tôi nhận thấy việc tổ chức lập Đồ án Quy hoạch chung TP.HCM hiện nay đang đứng trước một yêu cầu có tính chất khác hẳn các chu kỳ quy hoạch trước đây.

TP.HCM hiện không chỉ mở rộng về không gian, thay đổi về địa giới và mô hình chính quyền, mà còn đang đứng trước sự thay đổi đồng thời của hệ thống pháp luật về đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, đường sắt đô thị, tổ chức chính quyền địa phương và cơ chế phát triển kinh tế. Đồng thời, công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, mô hình kinh doanh, dòng vốn, cấu trúc dân cư, hành vi di chuyển và nhu cầu xã hội cũng đang thay đổi với tốc độ mà phương pháp lập quy hoạch truyền thống rất khó theo kịp.

Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng vấn đề không chỉ là lập một đồ án quy hoạch mới, mà quan trọng hơn là đổi mới phương pháp tạo ra đồ án quy hoạch.

Nếu vẫn sử dụng chủ yếu cách tiếp cận tuyến tính quen thuộc – cơ quan chuyên môn xây dựng khung nghiên cứu, lấy ý kiến các bộ ngành, địa phương, hiệp hội, chuyên gia, sau đó tổng hợp thành các phương án và hoàn thiện hồ sơ – thì dù có huy động rất nhiều nguồn lực, kết quả vẫn có nguy cơ tiếp tục là một hệ thống khung quản lý tương đối tĩnh, trong khi thực tiễn Thành phố lại đang vận động rất nhanh, đa chiều và khó dự báo.

Từ nhận thức đó, tôi kính đề xuất UBND TP.HCM và Sở Quy hoạch – Kiến trúc xem xét một phương pháp nghiên cứu bổ sung cho quá trình lập Quy hoạch chung, với tinh thần lấy thực tiễn của 168 phường, xã, đặc khu làm nền tảng, huy động trí tuệ liên ngành và sử dụng dữ liệu để hình thành các đề xuất phát triển có khả năng kiểm chứng, định lượng và chuyển hóa trực tiếp vào đồ án.

I. Đề xuất thành lập một mạng lưới chuyên gia liên ngành để cùng nghiên cứu 168 địa bàn

Tôi kiến nghị Thành phố nghiên cứu thành lập một Tổ công tác/ Mạng lưới chuyên gia nghiên cứu chiến lược Quy hoạch TP.HCM, với quy mô khoảng vài trăm chuyên gia được lựa chọn từ các lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc, kinh tế, đầu tư, đất đai, giao thông, hạ tầng, môi trường, tài chính, pháp luật, khoa học – công nghệ, văn hóa, xã hội, bất động sản, logistics, y tế, giáo dục và các lĩnh vực liên quan.

Điểm quan trọng không phải là số lượng chuyên gia, mà là cách tổ chức họ thành các nhóm liên ngành theo địa bàn.

Các nhóm này được phân công nghiên cứu 168 phường, xã, đặc khu trong một khoảng thời gian tập trung khoảng 1–2 tháng, với một phương pháp, một bộ dữ liệu nền, một bộ câu hỏi chiến lược và một hệ thống sản phẩm đầu ra thống nhất.

Mỗi địa phương không chỉ được nghiên cứu như một đơn vị hành chính, mà được xem là một mắt xích trong cấu trúc phát triển chung của toàn Thành phố.

Nhóm chuyên gia có nhiệm vụ đi sâu vào thực tiễn, làm việc với chính quyền cơ sở, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và các cơ quan chuyên môn; đồng thời kiểm chứng dữ liệu hiện có bằng quan sát thực địa và phân tích chuyên môn.

Mục tiêu không phải là “lấy thêm ý kiến” mà là phát hiện những gì hệ thống quy hoạch hiện tại chưa nhìn thấy.

Đó có thể là một động lực kinh tế mới, một hành lang phát triển đang hình thành, một tài sản đô thị chưa được khai thác, một khu vực có nguy cơ quá tải, một cấu trúc dân cư mới, một cơ hội phát triển văn hóa – xã hội, một vấn đề môi trường, một điểm nghẽn hạ tầng hoặc một quy định pháp luật đang cản trở quá trình phát triển.

II. Mỗi địa bàn phải tạo ra sản phẩm cụ thể, không phải một báo cáo tổng hợp chung chung

Để tránh hình thức và phân tán, tôi kiến nghị Thành phố không giao nhiệm vụ theo cách “khảo sát, đánh giá và đề xuất định hướng phát triển”.

Thay vào đó, mỗi nhóm phải tạo ra một bộ sản phẩm thống nhất gồm:

Một là, bản đồ hiện trạng thực tế của địa bàn, không chỉ phản ánh hiện trạng pháp lý mà cả hiện trạng đang vận hành.

Hai là, bản đồ các điểm nghẽn về đất đai, hạ tầng, giao thông, môi trường, pháp lý, đầu tư, quản lý và xã hội.

Ba là, bản đồ tài sản và lợi thế phát triển của địa phương, bao gồm đất đai, hạ tầng, mặt nước, cảnh quan, di sản, nguồn nhân lực, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, giáo dục, y tế và các nguồn lực khác.

Bốn là, bản đồ các cơ hội và động lực phát triển mới có khả năng hình thành trong tương lai.

Năm là, lựa chọn khoảng 3–5 vấn đề hoặc đề xuất chiến lược quan trọng nhất của địa bàn, thay vì đưa ra một danh mục dài các mong muốn đầu tư.

Sáu là, đối với mỗi đề xuất phải có đánh giá sơ bộ về thị trường, đất đai, pháp lý, nguồn vốn, hạ tầng, môi trường, xã hội và khả năng thực hiện.

Bảy là, xác định vai trò của địa phương trong cấu trúc phát triển chung của TP.HCM.

Như vậy, sau 1–2 tháng, Thành phố không chỉ có 168 báo cáo mà có thể hình thành 168 hồ sơ chiến lược địa bàn, được xây dựng theo cùng một phương pháp và có thể so sánh trực tiếp với nhau.

III. Từ 168 đề xuất, hình thành một quá trình sàng lọc và định lượng ở cấp Thành phố

Sau khi hoàn thành nghiên cứu địa bàn, tôi kiến nghị tổ chức một giai đoạn tích hợp tập trung.

Toàn bộ các đề xuất của 168 địa phương được đưa vào một hệ thống dữ liệu chung để phân loại, đối chiếu và đánh giá.

Những đề xuất trùng nhau phải được nhận diện.

Những đề xuất có tính bổ trợ phải được kết nối.

Những đề xuất xung đột phải được phân tích.

Những đề xuất có tiềm năng nhưng thiếu cơ sở phải được kiểm chứng.

Những đề xuất có khả năng tạo động lực cấp vùng phải được nâng lên thành vấn đề chiến lược của Thành phố.

Qua đó, Thành phố có thể chuyển từ “tổng hợp ý kiến” sang “sàng lọc và lựa chọn chiến lược dựa trên bằng chứng”.

Mỗi đề xuất có thể được đánh giá theo một ma trận thống nhất gồm: mức độ phù hợp với chiến lược Thành phố; khả năng tạo tăng trưởng; tạo việc làm; hiệu quả sử dụng đất; khả năng kết nối hạ tầng; khả năng huy động vốn; tác động xã hội; tác động môi trường; tính khả thi pháp lý; mức độ lan tỏa vùng và khả năng triển khai.

Kết quả cuối cùng không nhất thiết phải là hàng trăm dự án.

Ngược lại, mục tiêu phải là tìm ra một số ít động lực phát triển có tính quyết định đối với tương lai TP.HCM.

IV. Đặc biệt đề nghị xây dựng “Bản đồ điểm nghẽn thể chế” song song với quy hoạch không gian

Tôi cho rằng đây là một giá trị rất quan trọng mà phương pháp mới có thể đem lại.

Trong quá trình nghiên cứu 168 địa bàn, Thành phố sẽ có cơ hội phát hiện những trường hợp như: có đất nhưng không triển khai được; có nhà đầu tư nhưng thiếu cơ chế; có nhu cầu nhưng chưa có quy định phù hợp; có hạ tầng nhưng chưa khai thác hiệu quả; có chủ trương nhưng chưa rõ thẩm quyền; hoặc có tiềm năng phát triển nhưng bị hạn chế bởi sự chồng chéo giữa nhiều hệ thống pháp luật.

Những vấn đề này không nên chỉ được ghi nhận ở phần “kiến nghị”.

Có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu điểm nghẽn thể chế theo không gian, xác định rõ vấn đề nằm ở quy định nào, cơ quan nào có thẩm quyền, mức độ ảnh hưởng, có thể giải quyết ở cấp Thành phố hay cần kiến nghị Trung ương.

Khi đó, quá trình lập quy hoạch đồng thời trở thành một quá trình phát hiện và kiến nghị tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế đang cản trở phát triển.

Đây là cách tiếp cận rất phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời giúp quy hoạch không bị tách rời khỏi thực tiễn thể chế.

V. Hình thành một hệ thống dữ liệu chiến lược có thể tiếp tục sử dụng sau khi đồ án được phê duyệt

Một trong những hạn chế của cách làm truyền thống là dữ liệu được thu thập phục vụ một đồ án, sau khi đồ án hoàn thành thì giá trị sử dụng của hệ thống dữ liệu giảm dần.

Tôi kiến nghị phương pháp mới phải hướng tới một kết quả lớn hơn: xây dựng hệ thống dữ liệu chiến lược phát triển TP.HCM.

Trong đó 168 phường, xã, đặc khu trở thành các điểm cập nhật thường xuyên về dân cư, kinh tế, đất đai, đầu tư, hạ tầng, môi trường, giao thông, văn hóa và các biến động xã hội.

Khi đó, quy hoạch không còn là một sản phẩm được lập một lần rồi cố định trong nhiều năm.

Nó có thể trở thành một hệ thống chiến lược có khả năng cập nhật và điều chỉnh theo thực tiễn.

Đây cũng là điều kiện để Thành phố từng bước ứng dụng dữ liệu lớn, GIS, mô hình hóa và trí tuệ nhân tạo vào công tác quy hoạch, dự báo và quản lý phát triển.

VI. Giá trị lớn hơn của phương pháp này là tạo ra một năng lực quản trị mới cho Thành phố

Nếu được thực hiện đúng, đề xuất này không chỉ tạo ra một đồ án Quy hoạch chung tốt hơn.

Nó có thể tạo ra một mạng lưới trí tuệ đô thị của TP.HCM, kết nối chuyên gia, chính quyền, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng.

Nó tạo ra một bản đồ thực tế của Thành phố, bên cạnh các bản đồ pháp lý hiện có.

Nó tạo ra bản đồ động lực phát triển, giúp Thành phố nhìn thấy những xu hướng đang hình thành trước khi chúng trở thành vấn đề lớn.

Nó tạo ra bản đồ tài sản chiến lược, giúp nhận diện nguồn lực đang bị bỏ quên hoặc sử dụng chưa hiệu quả.

Nó tạo ra bản đồ điểm nghẽn thể chế, giúp quy hoạch trở thành công cụ hỗ trợ cải cách chính sách.

Và quan trọng nhất, nó tạo ra một chu trình:

dữ liệu → thực tiễn → phân tích → dự báo → lựa chọn → quy hoạch → đầu tư → thực hiện → phản hồi → cập nhật.

Đó không còn là phương pháp lập quy hoạch tuyến tính, mà là một hệ thống học hỏi và thích ứng liên tục của Thành phố.

VII. Kiến nghị tổ chức theo nguyên tắc “ít nhưng sâu, rõ mục tiêu, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm”

Tôi đặc biệt kiến nghị chương trình này phải được tổ chức để tránh nguy cơ trở thành một cuộc huy động hình thức.

Không đánh giá thành công bằng số lượng hội thảo, số lượng chuyên gia hay số lượng báo cáo.

Phải đánh giá bằng số lượng vấn đề thực tế được phát hiện, số điểm nghẽn được định danh, số đề xuất được định lượng, số phương án được kiểm chứng và số nội dung thực sự được chuyển hóa vào Đồ án Quy hoạch chung.

Tôi đề xuất có thể triển khai theo ba vòng.

Vòng một, khoảng 2–3 tuần, để chuẩn hóa phương pháp, dữ liệu, bộ câu hỏi và sản phẩm đầu ra.

Vòng hai, khoảng 1–2 tháng, để các nhóm liên ngành nghiên cứu 168 địa bàn.

Vòng ba, khoảng 1–2 tháng, để tích hợp, phân tích, định lượng, mô phỏng và lựa chọn các cấu trúc phát triển chiến lược cấp Thành phố.

Toàn bộ quá trình cần có một đầu mối điều phối thống nhất tại Thành phố, đồng thời bảo đảm vai trò của Sở Quy hoạch – Kiến trúc trong việc tích hợp các kết quả vào quá trình lập đồ án theo quy định.

VIII. Kiến nghị xem xét như một “chương trình đổi mới phương pháp lập quy hoạch”, không phải một nhiệm vụ nghiên cứu độc lập

Tôi kính đề nghị UBND TP.HCM và Sở Quy hoạch – Kiến trúc xem xét đề xuất này không phải như một nghiên cứu bổ sung bên cạnh Đồ án Quy hoạch chung, mà như một chương trình đổi mới phương pháp phục vụ trực tiếp cho Đồ án.

Nếu được chấp thuận về chủ trương, có thể trước hết tổ chức một chương trình thí điểm quy mô nhỏ trên một số địa bàn có tính chất khác nhau để kiểm chứng phương pháp, hoàn thiện bộ tiêu chí và sản phẩm, sau đó mới triển khai trên toàn bộ 168 phường, xã, đặc khu.

Cách làm này vừa hạn chế rủi ro, vừa tạo điều kiện để Thành phố kiểm nghiệm phương pháp trước khi huy động nguồn lực lớn.

Kính thưa Quý Lãnh đạo,

TP.HCM hiện đang đứng trước một thời điểm đặc biệt. Không gian Thành phố đã thay đổi, mô hình tổ chức chính quyền thay đổi, hệ thống pháp luật thay đổi, công nghệ thay đổi, cấu trúc kinh tế thay đổi và nhu cầu của người dân cũng thay đổi.

Trong một bối cảnh như vậy, không thể dùng một phương pháp quy hoạch của một giai đoạn cũ để giải quyết một cấu trúc đô thị của một giai đoạn mới.

Tôi cho rằng đổi mới quan trọng nhất hiện nay không phải là làm đồ án nhanh hơn, nhiều bản đồ hơn hay nhiều báo cáo hơn, mà là thay đổi cách Thành phố tạo ra tri thức để ra quyết định.

Nếu 168 phường, xã, đặc khu được xem là 168 điểm quan sát; nếu vài trăm chuyên gia được tổ chức thành một mạng lưới trí tuệ liên ngành; nếu dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông; nếu các đề xuất được định lượng và kiểm chứng; nếu những điểm nghẽn thể chế được nhận diện đồng thời với những điểm nghẽn không gian; và nếu toàn bộ kết quả được chuyển hóa trực tiếp vào quy hoạch, đầu tư và quản trị, thì TP.HCM có thể tạo ra một bước tiến không chỉ trong một đồ án quy hoạch, mà trong năng lực quản trị phát triển của cả Thành phố.

Đó cũng có thể là cơ hội để TP.HCM trở thành một trong những địa phương đầu tiên ở Việt Nam thử nghiệm một mô hình quy hoạch dựa trên dữ liệu, trí tuệ xã hội, thực tiễn địa bàn và khả năng thích ứng, phù hợp với yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách thể chế và nâng cao năng lực thực thi trong giai đoạn mới.

Với tinh thần đó, tôi trân trọng kính đề nghị UBND TP.HCM, Sở Quy hoạch – Kiến trúc xem xét, trao đổi và cho phép nghiên cứu sâu hơn đề xuất trên; đồng thời, nếu thấy phù hợp, có thể tổ chức một cuộc làm việc chuyên đề để trình bày cụ thể về mô hình tổ chức, bộ tiêu chí, phương pháp nghiên cứu 168 địa bàn, cơ chế huy động chuyên gia, hệ thống dữ liệu, sản phẩm đầu ra và lộ trình triển khai.

Tôi tin rằng, trong một Thành phố đang thay đổi với tốc độ rất nhanh, đổi mới phương pháp lập quy hoạch chính là một phần của đổi mới phương thức quản trị Thành phố.

Trân trọng kính đề nghị.

Người kiến nghị
TRƯƠNG NAM THUẬN
Kiến trúc sư / Chuyên gia nghiên cứu quy hoạch và chiến lược phát triển đô thị
Tài liệu kèm theo
ĐỔI MỚI TƯ DUY TRONG CÁCH THỰC HIỆN ĐỒ ÁN QUY HOẠCH CHUNG TPHCM docx
672.29 KB
Thành phố Hồ Chí Minh  trả lời
Sở Quy hoạch – Kiến trúc nhận được kiến nghị ngày 11/8/2026 của ông Trương Nam Thuận thông qua Hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị sáng kiến, giải pháp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (theo Nghị quyết số 57-NQ/TW).
Nội dung kiến nghị của Ông góp ý cho việc đổi mới phương pháp tổ chức nghiên cứu, lập Đồ án Quy hoạch chung TP.HCM trong bối cảnh mới. Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã chuyển toàn văn nội dung đến các phòng Quy hoạch chung thuộc sở để biết, tham khảo.
Sở Quy hoạch – Kiến trúc thông tin đến các Ông Trương Nam Thuận để biết./.
Kiến nghị cùng chủ đề
Không có dữ liệu