T
TRƯƠNG NAM THUẬN
Ngày 17/07/2026, 22:39
**Kính gửi: Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương**
**Về việc kiến nghị nghiên cứu xây dựng Chiến lược quốc gia về huy động, quản trị và chuyển hóa trí tuệ xã hội phục vụ phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW**
Kính thưa Quý Ban,
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nền kinh tế tri thức, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tôi xin trân trọng gửi đến Quý Ban một số kiến nghị về việc nghiên cứu xây dựng **Chiến lược quốc gia về huy động, quản trị và chuyển hóa trí tuệ xã hội phục vụ phát triển đất nước**.
Qua quá trình theo dõi thực tiễn, có thể nhận thấy Việt Nam đang sở hữu một nguồn lực trí tuệ xã hội vô cùng to lớn. Mỗi năm, hàng nghìn hội thảo, diễn đàn, triển lãm, hội nghị khoa học, hoạt động phản biện chính sách và tham vấn chuyên gia được tổ chức ở các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp. Hàng chục nghìn nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân, nhà quản lý và các tổ chức xã hội đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết và chất xám để đóng góp ý kiến cho những vấn đề phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, điều đáng trăn trở là phần lớn nguồn lực trí tuệ này vẫn chưa được tích lũy thành một năng lực quốc gia. Sau mỗi hội thảo, rất nhiều ý tưởng, sáng kiến, kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách dừng lại trong các báo cáo tổng kết hoặc kỷ yếu hội thảo. Nhiều nội dung có giá trị chưa được theo dõi đến cùng để biết đã được tiếp thu hay chưa, đã chuyển hóa thành chính sách hay mô hình thực tiễn hay chưa. Trong khi đó, ở nhiều nơi khác, những chủ đề tương tự lại tiếp tục được nghiên cứu, thảo luận và phản biện từ đầu do thiếu cơ chế kế thừa và chia sẻ. Điều này dẫn đến sự phân tán của tri thức, sự trùng lặp trong nghiên cứu và một sự lãng phí rất lớn đối với nguồn lực trí tuệ của quốc gia.
Thực trạng này không xuất phát từ việc chúng ta thiếu chuyên gia, thiếu nghiên cứu hay thiếu các diễn đàn trao đổi học thuật. Ngược lại, Việt Nam đang có một hệ sinh thái tri thức ngày càng phong phú. Khoảng trống nằm ở chỗ chúng ta chưa có một kiến trúc quản trị thống nhất để kết nối các nguồn lực đó, chưa có một cơ chế đủ mạnh để biến những tri thức phân tán thành năng lực hoạch định chính sách, đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia.
Trong bối cảnh các bài toán phát triển hiện nay đều mang tính liên ngành và có độ phức tạp ngày càng cao, như phát triển công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển đô thị, nâng cao năng suất hay cải cách thể chế, không một bộ, ngành hay tổ chức nào có thể tự mình tạo ra lời giải đầy đủ. Những bài toán đó chỉ có thể được giải quyết thông qua sự huy động, tích hợp và điều phối trí tuệ của toàn xã hội trong một thời gian dài, với sự kế thừa liên tục giữa nghiên cứu, phản biện, thực nghiệm và hoàn thiện chính sách.
Từ thực tiễn đó, tôi kính đề nghị Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nghiên cứu, tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ về việc xây dựng **Chiến lược quốc gia về huy động, quản trị và chuyển hóa trí tuệ xã hội phục vụ phát triển đất nước**, coi đây là một cấu phần quan trọng trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Chiến lược này không nhằm quản lý các hội thảo hay các hoạt động nghiên cứu theo nghĩa hành chính, mà hướng tới xây dựng một **hệ thống học tập quốc gia**, trong đó mọi hoạt động huy động trí tuệ của xã hội đều được kết nối, tích lũy, kế thừa và chuyển hóa thành chính sách, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị thực tiễn. Mỗi hội thảo, mỗi nghiên cứu, mỗi hoạt động phản biện sẽ không còn là một sự kiện độc lập, mà trở thành một mắt xích trong chuỗi giải quyết các bài toán chiến lược của quốc gia.
Tôi cũng kiến nghị nghiên cứu xây dựng một **Kiến trúc quản trị tri thức quốc gia**, trong đó xác lập rõ các nguyên tắc tổ chức, cơ chế điều phối liên ngành, tiêu chuẩn tích hợp dữ liệu tri thức, phương thức quản trị vòng đời của các sáng kiến và cơ chế theo dõi việc chuyển hóa tri thức thành kết quả cụ thể. Đồng thời, cần nghiên cứu hình thành Kho tri thức quốc gia trên nền tảng số, kết nối các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tạo điều kiện để mọi kết quả nghiên cứu và phản biện đều được kế thừa, khai thác và phát triển.
Bên cạnh đó, kính đề nghị nghiên cứu đổi mới cơ chế đánh giá các hoạt động huy động trí tuệ xã hội. Thay vì chủ yếu đánh giá quy mô tổ chức hoặc số lượng hoạt động, cần chuyển sang đánh giá giá trị thực chất mà các hoạt động này tạo ra đối với việc hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách, phát triển công nghệ, nâng cao năng suất và giải quyết các bài toán phát triển của đất nước. Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm chống lãng phí nguồn lực trí tuệ, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình xây dựng chính sách.
Tôi tin rằng, nếu được nghiên cứu và triển khai phù hợp, chiến lược này sẽ góp phần hình thành một **"trí nhớ thể chế"** của quốc gia, nơi mọi kinh nghiệm, sáng kiến và bài học đều được tích lũy qua nhiều giai đoạn phát triển; giúp giảm đáng kể tình trạng nghiên cứu trùng lặp, rút ngắn thời gian xây dựng chính sách, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và tạo điều kiện để mọi đóng góp của các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và người dân đều có cơ hội chuyển hóa thành giá trị thực tiễn.
Xa hơn, đây không chỉ là một giải pháp về quản trị tri thức, mà còn là một phương thức tổ chức mới để huy động sức mạnh của trí tuệ tập thể trong phát triển đất nước. Khi nguồn lực tri thức được quản trị như một loại hạ tầng chiến lược, Việt Nam sẽ có điều kiện xây dựng một Nhà nước học tập, một nền kinh tế học tập và một xã hội học tập, trong đó tri thức trở thành nguồn lực phát triển quan trọng không kém vốn, tài nguyên hay hạ tầng vật chất.
Kính mong Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương quan tâm nghiên cứu, xem xét và có thể tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tọa đàm hoặc tham vấn chuyên gia để tiếp tục hoàn thiện ý tưởng này, góp phần cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc Quý Ban sức khỏe, thành công.
THỰC TRẠNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN TRỊ TRI THỨC TỪ CÁC HỘI THẢO, DIỄN ĐÀN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TRÍ TUỆ XÃ HỘI
Trong những năm gần đây, các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp đã tổ chức rất nhiều hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, triển lãm và hoạt động tham vấn chính sách. Đây là một tín hiệu tích cực, thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn đối với việc huy động trí tuệ xã hội, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân trong quá trình hoạch định chính sách và giải quyết các vấn đề phát triển.Nhiều hội thảo đã tạo ra những giá trị thiết thực. Không ít ý kiến chuyên gia đã được tiếp thu trong quá trình xây dựng luật, chiến lược, quy hoạch và các chương trình phát triển. Nhiều công nghệ mới được giới thiệu, nhiều mô hình quản lý tiên tiến được chia sẻ, nhiều mạng lưới hợp tác được hình thành. Có thể khẳng định rằng hệ thống hội thảo hiện nay đã và đang đóng góp tích cực cho hoạt động quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, nếu nhìn ở quy mô của cả quốc gia, vẫn tồn tại một hạn chế mang tính hệ thống.
Phần lớn các hội thảo hiện nay vẫn được tổ chức theo từng chương trình, từng đề án hoặc từng cơ quan chủ trì. Mỗi hội thảo đều có mục tiêu riêng, kế hoạch riêng, dữ liệu riêng và báo cáo tổng kết riêng. Sau khi kết thúc, kết quả thường được lưu trữ tại đơn vị tổ chức hoặc được sử dụng cho phạm vi của từng nhiệm vụ cụ thể. Việc kết nối giữa các hội thảo, giữa các bộ, ngành và giữa các giai đoạn của cùng một vấn đề còn tương đối hạn chế.
Điều đó dẫn đến một thực trạng là tri thức được tạo ra nhiều nhưng chưa được tích lũy một cách có hệ thống. Những kết quả nghiên cứu có giá trị chưa luôn được kế thừa trong các hội thảo tiếp theo. Nhiều vấn đề tiếp tục được thảo luận nhiều lần ở các diễn đàn khác nhau mà chưa có cơ chế tổng hợp đầy đủ các kết quả đã đạt được trước đó. Các bài học kinh nghiệm của địa phương này chưa chắc đã được chuyển hóa thành tri thức chung để địa phương khác có thể tham khảo và áp dụng. Những sáng kiến có giá trị đôi khi vẫn dừng lại ở phạm vi của một hội thảo hoặc một đơn vị tổ chức.
Đây không phải là hạn chế của từng hội thảo riêng lẻ, mà là hạn chế của cơ chế quản trị tri thức ở cấp hệ thống.
Nguyên nhân khách quan xuất phát từ việc các vấn đề phát triển hiện nay ngày càng có tính liên ngành, liên vùng và liên lĩnh vực. Những mục tiêu như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng đô thị thông minh, kinh tế xanh hay nâng cao năng suất quốc gia đều đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều bộ, ngành, nhiều địa phương và nhiều nhóm chuyên gia khác nhau. Trong khi đó, cơ chế tổ chức hội thảo vẫn chủ yếu dựa trên phạm vi chức năng của từng cơ quan, nên việc hình thành một dòng chảy tri thức thống nhất còn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, sự phát triển rất nhanh của khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo cũng làm cho lượng thông tin và tri thức tăng lên với tốc độ chưa từng có. Nếu không có hệ thống chuẩn hóa, tích hợp và quản trị tri thức, khả năng tiếp thu và khai thác của con người sẽ ngày càng bị giới hạn. Tri thức sẽ bị phân tán trong hàng nghìn báo cáo, kỷ yếu, video, bài trình bày và cơ sở dữ liệu khác nhau mà khó chuyển hóa thành năng lực quản trị chung.
Nguyên nhân chủ quan là chúng ta vẫn đang tập trung nhiều vào việc tổ chức tốt từng sự kiện, nhưng chưa dành sự quan tâm tương xứng cho việc quản trị vòng đời của tri thức sau khi sự kiện kết thúc. Chưa có một cơ chế thống nhất để chuẩn hóa đầu ra của hội thảo, kết nối các kết quả nghiên cứu có liên quan, theo dõi việc tiếp thu các kiến nghị hay đánh giá mức độ chuyển hóa từ tri thức thành chính sách, mô hình thí điểm và kết quả thực tiễn.
Sự lãng phí lớn nhất vì thế không phải là chi phí tổ chức hội thảo. Chi phí đó chỉ chiếm một phần nhỏ. Sự lãng phí lớn hơn nhiều là sự lãng phí của **nguồn lực trí tuệ**.
Đó là hàng triệu giờ nghiên cứu của các nhà khoa học, hàng nghìn giờ chuẩn bị tham luận của các chuyên gia, những kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy trong nhiều năm của doanh nghiệp, những bài học quản lý của các địa phương và những ý tưởng đổi mới được hình thành qua quá trình đối thoại. Khi những tri thức này không được kết nối, không được kế thừa và không được chuyển hóa thành tài sản tri thức dùng chung, quốc gia buộc phải chi trả lặp đi lặp lại cho cùng một quá trình học hỏi. Những vấn đề tương tự tiếp tục được nghiên cứu lại, những bài học tương tự tiếp tục được rút ra và nhiều cơ hội tạo ra giá trị mới bị bỏ lỡ.
Trong bối cảnh Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển hàng đầu, việc xây dựng một cơ chế quản trị tri thức quốc gia không còn đơn thuần là cải tiến phương thức tổ chức hội thảo. Đây là yêu cầu để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trí tuệ của toàn xã hội, tăng khả năng học hỏi của bộ máy nhà nước, thúc đẩy phối hợp liên ngành và tạo ra một nền tảng tri thức thống nhất phục vụ quá trình xây dựng chính sách và phát triển đất nước trong dài hạn.
THỰC TRẠNG, ĐIỂM NGHẼN VÀ SỰ LÃNG PHÍ TRONG VIỆC HUY ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ TRI THỨC XÃ HỘI HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, cùng với yêu cầu đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, hoạt động hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, triển lãm chuyên ngành và tham vấn chính sách đã phát triển rất mạnh. Hầu như tất cả các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội nghề nghiệp và nhiều doanh nghiệp lớn đều thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm trao đổi chuyên môn, phản biện chính sách, giới thiệu công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm và huy động trí tuệ của các chuyên gia trong và ngoài nước.
Đây là một nguồn lực rất lớn của quốc gia. Mỗi hội thảo quy tụ nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, chuyên gia và những người trực tiếp triển khai thực tiễn. Mỗi bài tham luận là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp và đúc kết kinh nghiệm trong nhiều năm. Mỗi phiên thảo luận đều chứa đựng những góc nhìn, những đề xuất và những bài học có giá trị đối với quá trình hoạch định chính sách và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, nếu nhìn ở quy mô của toàn bộ hệ thống, có thể thấy một khoảng trống rất lớn trong quản trị tri thức.
Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia thống kê đầy đủ về hệ sinh thái hội thảo, diễn đàn và các hoạt động huy động trí tuệ xã hội. Chúng ta chưa có số liệu tổng hợp về mỗi năm có bao nhiêu hội thảo được tổ chức; bao nhiêu chuyên gia tham gia; bao nhiêu bài tham luận được công bố; bao nhiêu kiến nghị được đưa ra; bao nhiêu kiến nghị được tiếp thu; bao nhiêu đề xuất đã được thể chế hóa thành chính sách hoặc chuyển hóa thành các chương trình, dự án và mô hình triển khai trong thực tiễn.
Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia đang huy động một nguồn lực trí tuệ rất lớn nhưng lại chưa có công cụ để đo lường đầy đủ hiệu quả của nguồn lực đó. Khi chưa đo lường được thì cũng rất khó đánh giá, rất khó tối ưu và càng khó cải thiện.
Thực tiễn cũng cho thấy nhiều chủ đề lớn của đất nước đang được thảo luận ở rất nhiều nơi khác nhau. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, phát triển công nghiệp văn hóa, đô thị thông minh, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, cải cách thể chế hay phát triển nguồn nhân lực đều xuất hiện trong chương trình của nhiều bộ, ngành, địa phương và tổ chức nghề nghiệp. Mỗi đơn vị đều tiếp cận từ góc nhìn của mình và đều tạo ra những kết quả nhất định.
Tuy nhiên, giữa các hoạt động đó vẫn thiếu một cơ chế liên kết và tích hợp. Một bộ có thể tổ chức nhiều hội thảo về một chủ đề. Một địa phương cũng có thể nghiên cứu đúng vấn đề đó. Các trường đại học, viện nghiên cứu và hiệp hội nghề nghiệp cũng có những nghiên cứu riêng. Nhưng kết quả của các hoạt động này chưa được tập hợp thành một hệ thống tri thức thống nhất. Không có một nền tảng chung để xác định những nội dung nào đã đạt được sự đồng thuận, những vấn đề nào còn nhiều ý kiến khác nhau, những khoảng trống nào cần tiếp tục nghiên cứu và những giải pháp nào cần được ưu tiên triển khai.
Chính vì vậy, nhiều nội dung tiếp tục được nghiên cứu lặp lại ở nhiều nơi. Nhiều chuyên gia tiếp tục trình bày những vấn đề đã từng được trao đổi trước đó. Nhiều kiến nghị được nhắc lại qua nhiều hội thảo nhưng không có cơ chế theo dõi xuyên suốt để biết đã được tiếp thu đến đâu và đang được xử lý như thế nào.
Một hạn chế khác là phần lớn đầu ra của hội thảo hiện vẫn tồn tại dưới dạng các báo cáo, kỷ yếu, bản trình chiếu, video hoặc biên bản tổng hợp. Những tài liệu này được lưu giữ ở từng cơ quan hoặc từng đơn vị tổ chức. Chúng chưa được chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc, chưa được liên kết với các nghiên cứu liên quan và cũng chưa hình thành được một kho tri thức dùng chung ở cấp quốc gia. Điều này làm cho giá trị của tri thức giảm rất nhanh theo thời gian. Những kết quả nghiên cứu có giá trị sau vài năm rất khó được tìm lại, rất khó được kế thừa và càng khó trở thành nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Một khoảng trống khác là chưa có cơ chế theo dõi toàn bộ vòng đời của tri thức. Sau mỗi hội thảo, rất khó xác định một kiến nghị cụ thể đã được cơ quan nào tiếp nhận, đã được nghiên cứu hay chưa, đã được đưa vào dự thảo chính sách, đã được triển khai thí điểm hay đã được đánh giá hiệu quả trong thực tiễn. Tri thức vì thế thường dừng lại ở giai đoạn đề xuất mà thiếu một quy trình để tiếp tục phát triển thành chính sách, chương trình hành động hoặc giải pháp cụ thể.
Ngay cả việc đánh giá hiệu quả của hội thảo hiện nay cũng chủ yếu tập trung vào quá trình tổ chức. Các chỉ tiêu thường được quan tâm là số lượng đại biểu, số lượng bài tham luận, quy mô truyền thông, chất lượng tổ chức hoặc mức độ hoàn thành kế hoạch. Trong khi đó, những chỉ số phản ánh giá trị thực chất như số lượng sáng kiến được tiếp thu, số chính sách được hoàn thiện, số mô hình được triển khai, mức độ cải thiện hiệu quả quản lý hay giá trị kinh tế - xã hội tạo ra sau hội thảo vẫn chưa được xây dựng thành một hệ thống đánh giá thống nhất.
Đây chính là vùng xám lớn nhất trong quản trị tri thức hiện nay.
Chúng ta đang đầu tư nhiều cho quá trình tạo ra tri thức nhưng lại đầu tư chưa tương xứng cho quá trình quản trị tri thức. Chúng ta có nhiều hoạt động huy động trí tuệ xã hội nhưng chưa có một cơ chế đủ mạnh để tích lũy, kết nối, kế thừa và chuyển hóa những tri thức đó thành tài sản chung của quốc gia.
Sự lãng phí vì thế không nằm chủ yếu ở kinh phí tổ chức hội thảo. Điều lãng phí hơn rất nhiều là nguồn lực trí tuệ. Mỗi hội thảo huy động thời gian của các nhà quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia và doanh nghiệp. Mỗi bài tham luận là kết quả của nhiều tháng nghiên cứu. Mỗi kinh nghiệm được chia sẻ là bài học được tích lũy qua nhiều năm thực tiễn. Khi những tri thức đó không được kết nối thành một hệ thống, không được kế thừa qua các hội thảo tiếp theo và không được theo dõi đến giai đoạn ứng dụng, quốc gia sẽ phải liên tục nghiên cứu lại những vấn đề đã từng nghiên cứu, lặp lại những cuộc thảo luận đã từng diễn ra và trả chi phí nhiều lần cho cùng một quá trình tạo lập tri thức.
Trong bối cảnh Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển quan trọng hàng đầu, khoảng trống này cần được nhìn nhận như một vấn đề về thể chế. Muốn xây dựng một quốc gia học tập, một nền kinh tế tri thức và một nền quản trị hiện đại thì không chỉ cần tạo ra nhiều tri thức hơn, mà còn phải xây dựng được một hệ thống để tri thức được tích lũy, kế thừa, phát triển và chuyển hóa thành chính sách, công nghệ, mô hình quản trị và những giá trị cụ thể phục vụ người dân, doanh nghiệp và sự phát triển của đất nước.
VÌ SAO CẦN XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ TRI THỨC QUỐC GIA?
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ hay quy mô vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo ra, tích lũy, chia sẻ và chuyển hóa tri thức thành năng lực quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực giải quyết những bài toán phát triển.
Việt Nam hiện đang sở hữu một nguồn lực trí tuệ xã hội rất lớn. Mỗi năm, hàng nghìn hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, triển lãm, hội nghị khoa học và hoạt động tham vấn chính sách được tổ chức ở các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội và doanh nghiệp. Mỗi hoạt động đều huy động sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và nhà quản lý có kinh nghiệm thực tiễn. Đây là một nguồn tài nguyên tri thức vô cùng quý giá.
Tuy nhiên, phần lớn nguồn lực này vẫn đang tồn tại dưới dạng những đóng góp riêng lẻ. Tri thức được tạo ra trong từng hội thảo nhưng chưa được kết nối với những hội thảo khác. Những kết quả nghiên cứu chưa được tích hợp thành một hệ thống thống nhất. Những kiến nghị có giá trị chưa được theo dõi xuyên suốt từ lúc đề xuất đến khi trở thành chính sách hoặc được triển khai trong thực tiễn. Điều này khiến trí tuệ xã hội chưa thực sự trở thành một nguồn lực phát triển lâu dài của quốc gia.
Sự lãng phí lớn nhất không nằm ở kinh phí tổ chức hội thảo, mà nằm ở việc chúng ta chưa tích lũy được giá trị của hàng triệu giờ lao động trí tuệ. Mỗi chuyên gia dành nhiều thời gian nghiên cứu, chuẩn bị tham luận và phản biện. Mỗi doanh nghiệp chia sẻ những kinh nghiệm được tích lũy trong nhiều năm hoạt động. Mỗi địa phương mang đến những bài học từ thực tiễn quản lý. Nhưng sau khi hội thảo kết thúc, phần lớn những giá trị đó không tiếp tục được kết nối, kế thừa và phát triển. Tri thức vì thế bị phân tán thay vì được tích lũy.
Trong khi đó, những bài toán mà đất nước đang phải giải quyết ngày càng có quy mô lớn và tính liên ngành rất cao. Chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo, đô thị thông minh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, cải cách thể chế hay nâng cao năng suất quốc gia đều không phải là những vấn đề mà một cơ quan hay một hội thảo đơn lẻ có thể giải quyết. Những mục tiêu này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ, ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực chuyên môn và cần được bổ sung tri thức liên tục trong nhiều năm.
Nếu mỗi hội thảo vẫn tiếp tục hoạt động như một sự kiện độc lập thì trí tuệ xã hội sẽ luôn bị chia nhỏ theo từng đơn vị tổ chức. Mỗi nơi đều tạo ra tri thức, nhưng không ai nhìn thấy toàn bộ bức tranh. Những vấn đề giống nhau tiếp tục được nghiên cứu nhiều lần. Những kinh nghiệm thành công không được phổ biến kịp thời. Những sai lầm đã xảy ra ở nơi này lại tiếp tục lặp lại ở nơi khác. Chi phí học hỏi của toàn xã hội vì thế luôn ở mức rất cao.
Xây dựng hệ thống quản trị tri thức quốc gia chính là để khắc phục tình trạng đó. Mục tiêu không phải là quản lý nhiều hội thảo hơn, mà là kết nối toàn bộ các hoạt động huy động trí tuệ thành một hệ thống thống nhất. Mỗi hội thảo sẽ trở thành một bước trong quá trình tích lũy tri thức. Mỗi ý tưởng sẽ được lưu giữ, phản biện và tiếp tục hoàn thiện. Mỗi kết quả nghiên cứu sẽ trở thành nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo. Mỗi kiến nghị sẽ được theo dõi cho đến khi được thể chế hóa hoặc được chứng minh là không còn phù hợp.
Quan trọng hơn, hệ thống này sẽ tạo ra một năng lực mới cho quốc gia: **khả năng học tập ở quy mô quốc gia**. Một quốc gia cũng giống như một con người. Muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải biết học hỏi từ chính những kinh nghiệm của mình. Một quốc gia không có cơ chế ghi nhớ, kế thừa và chuyển hóa tri thức sẽ luôn phải bắt đầu lại từ đầu mỗi khi xuất hiện một vấn đề mới. Ngược lại, một quốc gia biết tích lũy tri thức sẽ ngày càng ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và hiệu quả hơn.
Đây cũng là bước phát triển tất yếu trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57. Nếu chuyển đổi số tạo ra hạ tầng dữ liệu, thì quản trị tri thức phải trở thành hạ tầng của năng lực điều hành quốc gia. Dữ liệu chỉ phản ánh những gì đã xảy ra. Tri thức mới giúp lý giải vì sao sự việc xảy ra, dự báo điều gì sẽ xảy ra tiếp theo và lựa chọn giải pháp tối ưu. Chỉ khi dữ liệu được chuyển hóa thành tri thức và tri thức tiếp tục được chuyển hóa thành chính sách, công nghệ, mô hình quản trị và hành động cụ thể thì quốc gia mới thực sự khai thác được giá trị của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Vì vậy, xây dựng hệ thống quản trị tri thức quốc gia không đơn thuần là đổi mới cách tổ chức hội thảo. Đây là một bước hoàn thiện thể chế để biến trí tuệ của hàng triệu con người thành tài sản chung của quốc gia, tạo ra một nền tảng học hỏi liên tục, đổi mới liên tục và phát triển liên tục. Đó cũng là điều kiện để Việt Nam chuyển từ một quốc gia biết huy động tri thức sang một quốc gia biết tích lũy, kế thừa và chuyển hóa tri thức thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh phát triển trong dài hạn.
**TỪ TỔ CHỨC HỘI THẢO ĐẾN XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ TRI THỨC QUỐC GIA – MỘT KHOẢNG TRỐNG THỂ CHẾ CẦN ĐƯỢC HOÀN THIỆN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 57**
Mỗi năm, Việt Nam tổ chức hàng nghìn hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, triển lãm và các hoạt động huy động trí tuệ xã hội ở quy mô quốc gia, bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Đây là một nguồn lực tri thức rất lớn. Mỗi hội thảo đều quy tụ các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia thực tiễn để cùng trao đổi, phản biện và đề xuất giải pháp cho những vấn đề của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ quản trị quốc gia, có thể thấy một thực tế đáng suy nghĩ. Phần lớn các hội thảo hiện nay vẫn được tổ chức như những sự kiện độc lập. Mỗi hội thảo có chủ đề riêng, chương trình riêng, báo cáo riêng và kết luận riêng. Sau khi kết thúc, tài liệu được lưu trữ, thông tin được truyền thông và hoạt động cũng khép lại. Những hội thảo tiếp theo lại bắt đầu gần như từ đầu, nhiều vấn đề tiếp tục được đặt ra, nhiều ý tưởng tiếp tục được nhắc lại, nhưng quá trình tích lũy và kế thừa tri thức giữa các hội thảo còn rất hạn chế.
Điều này dẫn đến một sự lãng phí rất lớn về nguồn lực trí tuệ. Không phải vì các hội thảo thiếu chất lượng, mà vì chúng chưa được kết nối thành một hệ thống tạo ra giá trị liên tục. Tri thức được tạo ra rất nhiều nhưng chưa được tổ chức thành tài sản tri thức quốc gia. Những kinh nghiệm quý chưa được tích hợp. Những kiến nghị có giá trị chưa được theo dõi đến cùng. Những kết quả nghiên cứu chưa trở thành nền tảng cho các cuộc thảo luận tiếp theo. Chuỗi giá trị từ tri thức đến chính sách và hành động vì thế còn nhiều khoảng đứt gãy.
Nếu rà soát các chủ trương của Đảng và pháp luật hiện hành, có thể thấy định hướng chung đã được xác lập khá rõ, nhưng cơ chế thực hiện vẫn còn thiếu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những đột phá quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Một trong những tư tưởng xuyên suốt của Nghị quyết là đổi mới phương thức quản trị quốc gia trên nền tảng dữ liệu, tri thức và công nghệ số; phát triển hạ tầng dữ liệu; thúc đẩy chia sẻ dữ liệu; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; huy động trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và toàn xã hội để giải quyết những bài toán phát triển quốc gia.
Đó là một định hướng rất tiến bộ. Tuy nhiên, Nghị quyết mới xác lập mục tiêu và nguyên tắc chung. Đến nay, chưa có một cơ chế đủ hoàn chỉnh để quản trị toàn bộ quá trình huy động, tích lũy, kế thừa và chuyển hóa tri thức được tạo ra từ các hội thảo, diễn đàn, hoạt động tham vấn chính sách và các hình thức huy động trí tuệ xã hội khác.
Nếu tiếp tục rà soát hệ thống pháp luật hiện hành như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Dữ liệu, Luật Chuyển đổi số cùng các quy định liên quan đến cơ sở dữ liệu quốc gia, có thể thấy trọng tâm chủ yếu đang tập trung vào quản lý dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và ứng dụng kết quả nghiên cứu. Đây đều là những nền tảng rất quan trọng.
Tuy nhiên, giữa dữ liệu và tri thức vẫn còn một khoảng cách lớn.
Dữ liệu chỉ là những thông tin được thu thập. Tri thức là kết quả của quá trình phân tích, phản biện, tổng hợp, kiểm chứng và tích lũy. Chính quá trình đó mới tạo ra năng lực hoạch định chính sách và năng lực giải quyết các bài toán phát triển quốc gia.
Hiện nay, chúng ta đã bắt đầu xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, nhưng chưa hình thành một hệ thống quản trị vòng đời của tri thức. Chưa có quy định về việc các hội thảo phải được tổ chức theo chuỗi để giải quyết một mục tiêu chiến lược. Chưa có quy định chuẩn hóa đầu ra của hội thảo để đưa vào kho tri thức dùng chung. Chưa có cơ chế theo dõi việc một kiến nghị đã được nghiên cứu, tiếp thu, thí điểm hay thể chế hóa đến đâu. Cũng chưa có hệ thống đánh giá mức độ chuyển hóa từ tri thức thành chính sách, từ chính sách thành hành động và từ hành động thành giá trị công.
Đây chính là khoảng trống thể chế cần được tiếp tục hoàn thiện.
Thay vì coi mỗi hội thảo là một hoạt động độc lập, cần chuyển sang tư duy xây dựng các **chương trình huy động trí tuệ quốc gia** gắn với từng mục tiêu chiến lược. Mỗi chương trình sẽ bao gồm một chuỗi hội thảo, diễn đàn, tọa đàm và hoạt động nghiên cứu được tổ chức liên tục trong nhiều năm, cùng hướng tới giải quyết một bài toán cụ thể của đất nước.
Ví dụ, nếu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, thì toàn bộ các hội thảo liên quan đến thể chế, tài chính, đầu tư, bản quyền, công nghệ số, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, kiến trúc, du lịch văn hóa, mỹ thuật, trò chơi điện tử, nguồn nhân lực và thị trường đều cần được thiết kế như các mô-đun của cùng một chương trình. Mỗi hội thảo chỉ giải quyết một phần của bài toán, nhưng toàn bộ kết quả đều được tích hợp vào một hệ thống tri thức thống nhất. Hội thảo sau kế thừa kết quả của hội thảo trước. Những vấn đề còn tranh luận tiếp tục được nghiên cứu. Những khoảng trống tri thức tiếp tục được bổ sung. Những đề xuất khả thi được chuyển sang giai đoạn thí điểm, đánh giá và hoàn thiện chính sách.
Để thực hiện được điều đó, cần hình thành một **Kho tri thức quốc gia** làm nền tảng chung cho quá trình huy động trí tuệ xã hội. Kho tri thức này không chỉ lưu trữ tài liệu, mà phải có khả năng chuẩn hóa, phân loại, liên kết, phân tích và tích hợp toàn bộ kết quả của các hội thảo, nghiên cứu, phản biện, sáng kiến và thực tiễn triển khai. Trên nền tảng đó, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tổng hợp, phát hiện những khoảng trống tri thức, nhận diện các xu hướng mới và đề xuất những chủ đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Khi đó, mỗi hội thảo sẽ không còn là điểm kết thúc của một cuộc gặp gỡ, mà trở thành một mắt xích trong chuỗi tạo lập tri thức quốc gia. Giá trị của hội thảo không còn được đo bằng số lượng đại biểu tham dự hay số lượng bài tham luận, mà được đo bằng lượng tri thức mới được bổ sung vào hệ thống, số vấn đề được giải quyết, số chính sách được hoàn thiện, số mô hình được triển khai và những giá trị thực tiễn được tạo ra cho người dân, doanh nghiệp và đất nước.
Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 57: lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng để đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nếu dữ liệu là hạ tầng của chuyển đổi số, thì tri thức phải trở thành hạ tầng của quản trị quốc gia. Muốn vậy, cần xây dựng một hệ thống thể chế mới để quản trị vòng đời của tri thức, biến hàng nghìn hội thảo, diễn đàn và hoạt động huy động trí tuệ xã hội mỗi năm thành một quá trình tích lũy liên tục, kế thừa có hệ thống và chuyển hóa thành năng lực phát triển quốc gia.
Đó không chỉ là đổi mới cách tổ chức hội thảo. Đó là chuyển từ tư duy **quản lý sự kiện** sang **quản trị tri thức**, từ **chia sẻ kinh nghiệm** sang **kiến tạo tài sản tri thức quốc gia**, và từ những cuộc đối thoại riêng lẻ sang một hệ thống huy động trí tuệ tập thể nhằm giải quyết những mục tiêu chiến lược của đất nước trong dài hạn.Nếu xác định đây là một khoảng trống của hệ thống quản trị quốc gia, thì giải pháp không phải là tổ chức nhiều hội thảo hơn, mà là thiết kế lại toàn bộ cơ chế huy động, tích lũy, quản trị và chuyển hóa tri thức theo một quy trình thống nhất ở cấp quốc gia.
Trước hết, cần chuyển từ tư duy tổ chức hội thảo theo từng sự kiện sang xây dựng **Chương trình huy động trí tuệ quốc gia** đối với từng mục tiêu chiến lược. Mỗi chương trình sẽ được xác định ngay từ đầu bằng một bài toán cụ thể cần giải quyết, chẳng hạn như phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng nền kinh tế AI, phát triển đô thị thông minh, chuyển đổi xanh, công nghiệp bán dẫn, cải cách thể chế hay nâng cao năng suất quốc gia. Toàn bộ các hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, triển lãm, hoạt động nghiên cứu và tham vấn chính sách liên quan sẽ được tổ chức như những hợp phần của cùng một chương trình thay vì tồn tại độc lập.
Trên cơ sở đó, cần xây dựng một **Kiến trúc quản trị tri thức quốc gia**, trong đó mọi hoạt động huy động trí tuệ đều tuân theo một quy trình thống nhất. Mỗi hội thảo phải xác định rõ mục tiêu cần giải quyết, những câu hỏi trọng tâm cần trả lời, sản phẩm đầu ra phải tạo ra và trách nhiệm của các đơn vị tiếp nhận kết quả. Hội thảo không còn kết thúc bằng biên bản hoặc kỷ yếu, mà kết thúc bằng dữ liệu đã được chuẩn hóa để tiếp tục đi vào các bước nghiên cứu, phản biện, thử nghiệm và hoàn thiện chính sách.
Một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng **Kho tri thức quốc gia** trên nền tảng số. Đây không đơn thuần là nơi lưu trữ tài liệu, mà là hạ tầng tri thức của quốc gia. Toàn bộ bài tham luận, kết quả nghiên cứu, báo cáo chuyên đề, dữ liệu khảo sát, video hội thảo, ý kiến phản biện, kiến nghị chính sách và kết quả triển khai thực tiễn đều được chuẩn hóa theo một cấu trúc thống nhất, có khả năng tìm kiếm, phân loại, liên kết và khai thác lại. Mỗi nội dung mới sẽ tự động được kết nối với các nghiên cứu trước đó để hình thành một dòng chảy tri thức liên tục thay vì những tài liệu rời rạc.
Song song với đó, cần xây dựng **cơ chế quản trị vòng đời của tri thức**. Mỗi ý tưởng được đề xuất tại hội thảo sẽ có một mã định danh để theo dõi xuyên suốt từ khi hình thành cho đến khi được nghiên cứu, phản biện, tiếp thu, thể chế hóa, triển khai thí điểm, đánh giá và nhân rộng. Khi đó, có thể biết rõ một kiến nghị đang ở giai đoạn nào, đơn vị nào đang phụ trách, những khó khăn nào còn tồn tại và kết quả cuối cùng đã tạo ra tác động gì. Tri thức sẽ không còn dừng lại ở giai đoạn đề xuất mà tiếp tục được quản trị cho đến khi tạo ra giá trị thực tiễn.
Các chuỗi hội thảo của bộ, ngành cũng cần được tổ chức lại theo hướng này. Thay vì mỗi năm xây dựng danh mục hội thảo rời rạc, mỗi bộ cần xây dựng **Chương trình huy động trí tuệ theo mục tiêu chiến lược của ngành**. Mỗi hội thảo chỉ giải quyết một phần của bài toán lớn. Hội thảo sau kế thừa kết quả của hội thảo trước. Những vấn đề chưa đạt được đồng thuận sẽ tiếp tục được nghiên cứu. Những giải pháp khả thi sẽ được lựa chọn để thí điểm. Toàn bộ dữ liệu được tích hợp vào kho tri thức chung của bộ và đồng thời kết nối với Kho tri thức quốc gia.
Đối với những chương trình mang tính liên ngành như công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, phát triển AI, kinh tế xanh hay phát triển vùng, cần thành lập các **nhóm điều phối tri thức liên ngành**. Các nhóm này có nhiệm vụ xây dựng lộ trình huy động trí tuệ, xác định các chủ đề ưu tiên, điều phối nội dung giữa các bộ, ngành, tổng hợp kết quả nghiên cứu và đề xuất những vấn đề cần tiếp tục thảo luận. Vai trò của họ không phải là tổ chức hội thảo, mà là điều phối toàn bộ dòng chảy tri thức của chương trình.
Để bảo đảm hiệu quả, cần xây dựng một hệ thống đánh giá mới. Hội thảo không chỉ được đánh giá bằng số lượng đại biểu tham dự hay số bài tham luận, mà bằng giá trị tri thức tạo ra. Cần đo lường số lượng sáng kiến mới được hình thành, số vấn đề được làm sáng tỏ, số kiến nghị được tiếp thu, số chính sách được hoàn thiện, số mô hình được triển khai thí điểm, mức độ kế thừa giữa các hội thảo và tác động thực tế đối với người dân, doanh nghiệp cũng như hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh, AI cần được đưa vào như một công cụ hỗ trợ quản trị tri thức. AI có thể tự động tổng hợp nội dung của hàng nghìn hội thảo, phát hiện những vấn đề được nhắc lại nhiều lần, nhận diện các khoảng trống nghiên cứu, phân tích mức độ đồng thuận giữa các nhóm chuyên gia, đề xuất chủ đề cho các hội thảo tiếp theo và hỗ trợ cơ quan quản lý trong quá trình xây dựng chính sách. Điều này sẽ giúp giảm đáng kể thời gian xử lý thông tin và nâng cao chất lượng của quá trình ra quyết định.
Về lâu dài, cần nghiên cứu hoàn thiện thể chế để hình thành **Hệ thống quản trị tri thức quốc gia** như một hạ tầng mềm của quốc gia trong thời đại số. Nếu dữ liệu là hạ tầng của chuyển đổi số thì tri thức phải trở thành hạ tầng của quản trị quốc gia. Hệ thống này sẽ kết nối các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong một mạng lưới học tập và đổi mới sáng tạo liên tục.
Đó cũng là bước triển khai cụ thể tinh thần của Nghị quyết 57. Mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra nhiều hội thảo hơn, mà là tạo ra một quốc gia biết học hỏi từ chính mình; nơi mọi tri thức được tích lũy, mọi kinh nghiệm được kế thừa, mọi sáng kiến được theo dõi đến cùng và mọi đóng góp của trí tuệ xã hội đều có cơ hội chuyển hóa thành chính sách, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị thực tiễn cho sự phát triển của đất nước.
ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ HUY ĐỘNG, QUẢN TRỊ VÀ CHUYỂN HÓA TRÍ TUỆ XÃ HỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Nếu Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển quan trọng hàng đầu, thì cần có một cơ chế để biến trí tuệ của toàn xã hội thành năng lực phát triển quốc gia. Muốn vậy, cần xây dựng một **Chiến lược quốc gia về huy động, quản trị và chuyển hóa trí tuệ xã hội**, nhằm hình thành một hệ thống thống nhất từ khâu huy động tri thức đến khâu tạo ra chính sách, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị thực tiễn.
Chiến lược này không nhằm quản lý các hội thảo, mà nhằm **quản trị toàn bộ vòng đời của tri thức**.
Nguyên lý đầu tiên của chiến lược là chuyển từ tư duy **tổ chức sự kiện** sang **tổ chức chuỗi tạo ra giá trị**. Mọi hội thảo, diễn đàn, triển lãm, hoạt động nghiên cứu, tham vấn chính sách hay phản biện xã hội đều chỉ là những công đoạn trong một chuỗi thống nhất. Giá trị của từng hoạt động không được đo bằng số lượng người tham dự hay mức độ truyền thông, mà được đo bằng đóng góp của nó vào việc giải quyết một mục tiêu chiến lược đã được xác định trước.
Nguyên lý thứ hai là chuyển từ **chia sẻ tri thức** sang **kiến tạo tri thức**. Tri thức không còn được xem là sản phẩm cuối cùng của hội thảo. Ngược lại, mỗi ý tưởng chỉ là dữ liệu đầu vào cho một quá trình phản biện, kiểm chứng, tích hợp, thử nghiệm và hoàn thiện. Chỉ khi được nhiều chủ thể cùng bổ sung, đối chiếu với thực tiễn và chuyển hóa thành giải pháp có thể triển khai thì tri thức mới thực sự tạo ra giá trị.
Nguyên lý thứ ba là chuyển từ **quản lý theo cơ quan** sang **điều phối theo bài toán quốc gia**. Những vấn đề như công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo, đô thị thông minh, chuyển đổi xanh, phát triển vùng hay nâng cao năng suất không thuộc riêng một bộ, ngành nào. Vì vậy, toàn bộ hoạt động huy động trí tuệ phải được tổ chức xoay quanh các chương trình chiến lược quốc gia, thay vì giới hạn trong phạm vi chức năng của từng cơ quan.
Trên nền tảng đó, cần hình thành một kiến trúc quản trị thống nhất.
Ở tầng cao nhất là **danh mục các bài toán chiến lược quốc gia**, được cập nhật định kỳ theo yêu cầu phát triển đất nước. Mỗi bài toán sẽ có mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình và cơ quan điều phối.
Tầng thứ hai là **các chương trình huy động trí tuệ quốc gia**. Mỗi chương trình kéo dài nhiều năm, huy động đồng thời các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và chuyên gia trong nước, quốc tế. Thay vì tổ chức những hội thảo riêng lẻ, toàn bộ các hoạt động đều được thiết kế như những hợp phần của cùng một chương trình.
Tầng thứ ba là **hệ thống điều phối tri thức**. Cơ quan điều phối không làm thay các bộ, ngành, mà có nhiệm vụ xác định khoảng trống tri thức, thiết kế lộ trình huy động chuyên gia, kết nối các hoạt động nghiên cứu, theo dõi tiến độ giải quyết từng bài toán và bảo đảm mọi kết quả đều được tích hợp vào hệ thống tri thức chung.
Tầng thứ tư là **Kho tri thức quốc gia**, được xây dựng như một hạ tầng số mở. Đây không phải là nơi lưu trữ tài liệu đơn thuần mà là một nền tảng tri thức có cấu trúc. Mọi bài tham luận, nghiên cứu, phản biện, dữ liệu khảo sát, kết quả thí điểm, chính sách, tiêu chuẩn và bài học thực tiễn đều được chuẩn hóa, liên kết và cập nhật liên tục. Trí tuệ nhân tạo sẽ hỗ trợ phân tích, phát hiện xu hướng, tổng hợp ý kiến, nhận diện khoảng trống và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tầng cuối cùng là **hệ thống chuyển hóa tri thức thành giá trị công**. Mỗi kết quả nghiên cứu sẽ được theo dõi xuyên suốt từ giai đoạn hình thành ý tưởng, phản biện, hoàn thiện, thể chế hóa, triển khai thí điểm, đánh giá tác động cho đến khi được nhân rộng thành chính sách, tiêu chuẩn, chương trình hoặc mô hình phát triển. Nhờ đó, tri thức không dừng lại ở hội thảo mà tiếp tục tạo ra tác động trong thực tiễn.
Để chiến lược vận hành hiệu quả, cần đồng thời hoàn thiện thể chế.
Trước hết, cần ban hành quy định về quản trị đầu ra của các hoạt động huy động trí tuệ. Mỗi hội thảo phải có mục tiêu rõ ràng, sản phẩm đầu ra được chuẩn hóa, cơ chế lưu trữ thống nhất và trách nhiệm theo dõi sau hội thảo. Những kết quả có giá trị phải được cập nhật vào Kho tri thức quốc gia và trở thành dữ liệu đầu vào bắt buộc cho các nghiên cứu, hội thảo và chương trình tiếp theo có liên quan.
Tiếp theo là xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về dữ liệu tri thức. Mọi bài tham luận, báo cáo, phản biện, kết luận, kiến nghị và kết quả nghiên cứu cần được chuẩn hóa theo một cấu trúc thống nhất để có thể tìm kiếm, phân tích, kết nối và tái sử dụng. Điều này sẽ tạo nền tảng cho việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị tri thức.
Song song với đó là đổi mới cơ chế đánh giá. Hiệu quả của hội thảo không còn được đánh giá chủ yếu qua số lượng đại biểu, số bài tham luận hay mức độ truyền thông, mà qua khả năng tạo ra giá trị. Cần xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh mức độ tích lũy tri thức, tỷ lệ kiến nghị được tiếp thu, tỷ lệ nghiên cứu được thể chế hóa, số mô hình được triển khai, mức độ phối hợp liên ngành, tác động đến năng suất quản lý nhà nước và lợi ích mang lại cho người dân, doanh nghiệp.
Một nội dung quan trọng khác là xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về tri thức. Truyền thông không chỉ giới thiệu hội thảo sắp diễn ra hoặc đưa tin sau khi kết thúc, mà phải truyền thông toàn bộ hành trình của tri thức. Xã hội cần biết bài toán chiến lược nào đang được giải quyết, những vấn đề nào đang cần đóng góp, những kết quả nào đã đạt được, những nội dung nào còn tranh luận và những giá trị nào đã được tạo ra sau khi chính sách được triển khai. Khi đó, truyền thông trở thành cầu nối giữa xã hội với quá trình kiến tạo chính sách, đồng thời tạo động lực để chuyên gia, doanh nghiệp và người dân tiếp tục tham gia đóng góp.
Xa hơn nữa, chiến lược này sẽ góp phần định hình một **thị trường tri thức**. Trong thị trường đó, tri thức được tạo ra, kiểm chứng, tích lũy, chia sẻ và chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội. Các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp tư vấn, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội và chuyên gia độc lập không còn tham gia theo từng sự kiện, mà trở thành những chủ thể thường xuyên của hệ sinh thái tri thức quốc gia. Nhu cầu về nghiên cứu, phản biện, dữ liệu, phân tích, dự báo và đánh giá chính sách sẽ tạo động lực cho sự phát triển của các dịch vụ tri thức chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mục tiêu cuối cùng của chiến lược không phải là tạo ra nhiều hội thảo hơn, nhiều báo cáo hơn hay nhiều dữ liệu hơn. Mục tiêu là xây dựng một quốc gia có khả năng học tập liên tục, nơi mọi kinh nghiệm đều được ghi nhớ, mọi tri thức đều được kế thừa, mọi sáng kiến đều được theo dõi đến cùng và mọi đóng góp của xã hội đều có cơ hội chuyển hóa thành giá trị công. Đó chính là nền tảng để hình thành một Nhà nước học tập, một nền kinh tế tri thức và một hệ thống quản trị hiện đại, phù hợp với tinh thần đổi mới mà Nghị quyết 57 đã đặt ra.
MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC, NGUYÊN LÝ TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ TÍCH HỢP TRI THỨC QUỐC GIA
Mục tiêu cốt lõi của chiến lược này không phải là đổi mới cách tổ chức hội thảo, mà là xây dựng **một hệ thống học tập quốc gia (National Learning System)**, trong đó mọi hoạt động huy động trí tuệ xã hội đều được kết nối thành một chu trình liên tục từ tri thức đến hành động, từ hành động đến kết quả và từ kết quả tiếp tục quay trở lại bổ sung cho tri thức. Đây là cơ chế giúp Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và toàn xã hội cùng học hỏi từ những kinh nghiệm của chính mình thay vì liên tục bắt đầu lại từ đầu.
Mục tiêu thứ nhất là **tập trung trí tuệ quốc gia vào các bài toán chiến lược**, thay vì để nguồn lực tri thức bị phân tán theo từng cơ quan, từng chương trình hay từng sự kiện riêng lẻ. Hằng năm, Chính phủ sẽ công bố danh mục những bài toán chiến lược cần huy động trí tuệ xã hội, chẳng hạn như phát triển công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo, nhà ở xã hội, đô thị thông minh, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế, phát triển vùng hay nâng cao năng suất lao động. Mọi hội thảo, diễn đàn và hoạt động nghiên cứu có liên quan đều được định vị là một phần của bài toán đó. Điều này giúp toàn xã hội biết mình đang cùng tham gia giải quyết vấn đề gì và phần đóng góp của mình nằm ở đâu trong bức tranh tổng thể.
Mục tiêu thứ hai là **chấm dứt tình trạng tri thức bị phân tán sau mỗi hội thảo**. Mọi sản phẩm đầu ra, từ bài tham luận, dữ liệu khảo sát, báo cáo chuyên đề, video, phản biện, kiến nghị đến các kết luận đều được chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc và đưa vào Kho tri thức quốc gia. Điều quan trọng không phải là lưu trữ tài liệu, mà là lưu trữ tri thức theo từng vấn đề. Mỗi nội dung đều được gắn với chủ đề, lĩnh vực, chương trình chiến lược, tác giả, đơn vị, từ khóa, mức độ hoàn thiện và các nghiên cứu có liên quan. Nhờ đó, bất kỳ ai cũng có thể biết một vấn đề đã được nghiên cứu đến đâu, còn thiếu nội dung gì và cần tiếp tục ở hướng nào.
Mục tiêu thứ ba là **xây dựng cơ chế kế thừa bắt buộc**. Một hội thảo mới không được bắt đầu từ con số không. Trước khi tổ chức, ban tổ chức phải rà soát toàn bộ các hội thảo, nghiên cứu và kiến nghị đã có liên quan đến chủ đề đó. Nội dung hội thảo phải chỉ rõ những vấn đề nào đã được giải quyết, những vấn đề nào còn tồn tại, những kiến nghị nào đã được tiếp thu và những khoảng trống nào cần tiếp tục nghiên cứu. Hội thảo vì vậy không lặp lại tri thức cũ mà chỉ tập trung tạo ra tri thức mới.
Mục tiêu thứ tư là **tạo lập chuỗi giá trị của tri thức**. Một ý tưởng không kết thúc khi được trình bày tại hội thảo. Sau khi được phản biện, ý tưởng sẽ được phân loại theo mức độ khả thi, giao cho cơ quan hoặc nhóm chuyên môn tiếp tục nghiên cứu, xây dựng đề án, triển khai thí điểm, đánh giá kết quả và hoàn thiện chính sách. Mỗi ý tưởng sẽ có một "hồ sơ vòng đời" để theo dõi toàn bộ quá trình phát triển của nó. Khi đó, tri thức không còn dừng lại ở giai đoạn trao đổi mà tiếp tục được chuyển hóa thành hành động và kết quả cụ thể.
Để tránh lãng phí, chiến lược cần xây dựng một **cơ chế tích hợp bắt buộc**. Mọi hội thảo có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc phục vụ xây dựng chính sách đều phải đưa toàn bộ đầu ra vào Kho tri thức quốc gia theo một chuẩn dữ liệu thống nhất. Không còn tình trạng mỗi đơn vị lưu giữ tài liệu theo một cách riêng. Mọi kết quả nghiên cứu đều có thể được tìm kiếm, so sánh, đối chiếu và khai thác lại. Điều này giúp giảm đáng kể việc nghiên cứu trùng lặp, tránh lặp lại các cuộc thảo luận đã có và rút ngắn thời gian chuẩn bị chính sách.
Bên cạnh tích hợp dữ liệu là **tích hợp mục tiêu**. Một bài toán chiến lược sẽ được chia thành nhiều nhóm nội dung. Mỗi bộ, ngành, địa phương hoặc tổ chức chỉ phụ trách một phần theo đúng chức năng và năng lực của mình. Tuy nhiên, tất cả đều sử dụng cùng một hệ thống dữ liệu, cùng một bản đồ tri thức và cùng hướng tới một mục tiêu cuối cùng. Điều này giúp phân công rõ ràng nhưng không chia cắt tri thức.
Chiến lược cũng cần xây dựng **bản đồ tri thức quốc gia** đối với từng lĩnh vực. Bản đồ này cho thấy toàn bộ các chủ đề đã nghiên cứu, các vấn đề còn bỏ ngỏ, các nhóm chuyên gia đang tham gia, các công nghệ đang được phát triển, các mô hình đang được thí điểm và các chính sách đang được hoàn thiện. Khi một hội thảo mới được đề xuất, ban tổ chức có thể nhìn ngay vào bản đồ này để biết mình nên tập trung vào đâu thay vì lặp lại những nội dung đã có.
Một nguyên lý quan trọng khác là **tri thức phải được lan truyền theo chuỗi giá trị, không lan truyền theo sự kiện**. Truyền thông không chỉ dừng ở việc thông báo khai mạc, tường thuật diễn biến hay tổng kết hội thảo. Mỗi bài toán chiến lược cần có một chuyên trang hoặc nền tảng số công khai, nơi toàn xã hội có thể theo dõi tiến trình giải quyết vấn đề. Người dân biết bài toán đang ở giai đoạn nào. Doanh nghiệp biết những nhu cầu công nghệ nào đang được đặt ra. Các trường đại học biết những khoảng trống nghiên cứu cần tập trung. Chuyên gia biết nội dung nào đang cần phản biện. Địa phương biết mô hình nào đã thành công để có thể học hỏi và áp dụng.
Tri thức cũng phải được lan truyền bằng cơ chế mở. Những nội dung không thuộc phạm vi bí mật nhà nước nên được công bố dưới dạng dữ liệu mở để doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội và người dân tiếp tục khai thác, phản biện và phát triển. Giá trị của tri thức không nằm ở việc được cất giữ, mà ở khả năng tạo ra những tri thức mới từ những gì đã có.
Để bảo đảm hệ thống vận hành hiệu quả, cần thiết lập các chỉ số đánh giá ở cấp quốc gia. Không chỉ đo số lượng hội thảo, mà đo tỷ lệ kế thừa giữa các hội thảo; tỷ lệ nghiên cứu trùng lặp được loại bỏ; số lượng tri thức mới được bổ sung; tỷ lệ kiến nghị được tiếp thu; thời gian từ ý tưởng đến chính sách; số mô hình được thí điểm; mức độ sử dụng lại dữ liệu nghiên cứu; số lượng chính sách sử dụng kết quả từ Kho tri thức quốc gia; và tác động thực tế đến năng suất quản lý, năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch vụ công và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Nếu triển khai đầy đủ, chiến lược này sẽ tạo ra một sự thay đổi căn bản. Hội thảo không còn là nơi để trình bày những gì mình biết, mà trở thành nơi bổ sung những gì hệ thống còn thiếu. Mỗi chuyên gia không còn đóng góp cho một sự kiện, mà đóng góp cho một mục tiêu quốc gia. Mỗi nghiên cứu không còn tồn tại độc lập, mà trở thành một phần của trí nhớ quốc gia. Và mỗi ý tưởng không còn kết thúc bằng một tràng pháo tay, mà tiếp tục được theo dõi, phát triển và chuyển hóa thành những giá trị cụ thể phục vụ sự phát triển của đất nước.
Hiện nay, chưa có một cơ quan hay một hệ thống quốc gia nào ở Việt Nam thực hiện đầy đủ chức năng "quản trị vòng đời tri thức quốc gia" theo nghĩa mà bạn đang đề xuất. Tuy nhiên, có nhiều cơ quan đang thực hiện một phần của chuỗi giá trị này. Chính vì bị chia cắt theo chức năng nên đây lại là lý do lớn nhất để cần một cơ chế điều phối liên ngành.
Dưới góc độ thể chế, có thể nhìn thấy bức tranh như sau.
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan gần nhất với nhiệm vụ này. Bộ quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ, kết quả nhiệm vụ khoa học, sở hữu trí tuệ và nhiều chương trình nghiên cứu quốc gia. Tuy nhiên, phạm vi của Bộ chủ yếu tập trung vào tri thức khoa học và công nghệ, chưa bao quát toàn bộ tri thức được tạo ra từ các hoạt động xây dựng chính sách, diễn đàn doanh nghiệp, phản biện xã hội, quy hoạch, quản trị công hay kinh nghiệm thực tiễn của các địa phương.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội thảo về công nghiệp văn hóa, di sản, du lịch, nghệ thuật và phát triển văn hóa. Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng nhiều bộ khác cũng liên tục tổ chức các hội thảo chuyên ngành phục vụ quá trình xây dựng chính sách và phát triển ngành. Tuy nhiên, các kết quả này chủ yếu phục vụ mục tiêu của từng bộ, chưa được tích hợp vào một hệ thống tri thức dùng chung của quốc gia.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tập hợp hàng trăm hội nghề nghiệp, tổ chức rất nhiều hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Các trường đại học và viện nghiên cứu cũng tạo ra khối lượng rất lớn các kết quả nghiên cứu và hội thảo học thuật. Tuy nhiên, đây vẫn là những nguồn tri thức phân tán, chưa có cơ chế tích hợp thống nhất.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các đại học quốc gia và nhiều trường đại học lớn đều sở hữu những kho dữ liệu nghiên cứu rất giá trị. Nhưng giữa các hệ thống này chưa hình thành một kiến trúc chia sẻ tri thức ở cấp quốc gia.
Ở góc độ chuyển đổi số, Nhà nước đang đầu tư rất mạnh vào các cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng dữ liệu và chia sẻ dữ liệu theo tinh thần Nghị quyết 57. Đây là nền tảng rất quan trọng. Tuy nhiên, dữ liệu không đồng nghĩa với tri thức. Dữ liệu cho biết điều gì đã xảy ra. Tri thức giúp trả lời vì sao sự việc xảy ra, đâu là giải pháp và kinh nghiệm nào nên được áp dụng. Khoảng trống hiện nay chính là thiếu một hệ thống quản trị lớp tri thức nằm phía trên lớp dữ liệu.
Chính vì vậy, nếu quan sát toàn bộ hệ thống sẽ thấy một nghịch lý. Chúng ta không thiếu cơ quan tạo ra tri thức, nhưng lại chưa có cơ quan điều phối tri thức.
Đây là vấn đề có tính liên ngành rất cao vì những bài toán phát triển của đất nước đều đã vượt khỏi phạm vi của một ngành.
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa mà còn liên quan đến giáo dục, khoa học công nghệ, tài chính, đầu tư, quy hoạch đô thị, du lịch, ngoại giao, thương mại, truyền thông và chuyển đổi số.
Phát triển trí tuệ nhân tạo không chỉ là câu chuyện của khoa học công nghệ mà còn liên quan đến giáo dục, dữ liệu, pháp luật, an ninh mạng, công nghiệp, y tế, giao thông và dịch vụ công.
Xây dựng đô thị thông minh không chỉ thuộc lĩnh vực xây dựng mà còn liên quan đến quy hoạch, giao thông, môi trường, năng lượng, công nghệ số, tài chính và quản trị địa phương.
Nếu mỗi bộ chỉ huy động trí tuệ trong phạm vi ngành của mình thì sẽ không bao giờ hình thành được lời giải hoàn chỉnh cho những bài toán này.
Đó là lý do cần một cơ chế điều phối liên ngành, không phải để thay thế chức năng của các bộ, mà để kết nối các dòng tri thức mà mỗi bộ đang tạo ra thành một hệ thống thống nhất.
Từ góc độ quản trị công, đây cũng là một giải pháp chống lãng phí rất hiệu quả.
Lãng phí lớn nhất hiện nay không phải là kinh phí tổ chức hội thảo. Kinh phí đó chỉ là phần nổi. Phần chìm là lãng phí vốn tri thức.
Khi cùng một vấn đề được nghiên cứu nhiều lần ở nhiều nơi mà không biết nơi khác đã làm đến đâu, xã hội lãng phí thời gian nghiên cứu.
Khi một địa phương có mô hình thành công nhưng không được tổng kết và lan tỏa, các địa phương khác phải tự thử nghiệm lại từ đầu, xã hội lãng phí kinh nghiệm.
Khi một chuyên gia nhiều lần trình bày cùng một nội dung ở nhiều diễn đàn khác nhau vì không có hệ thống kế thừa, xã hội lãng phí chất xám.
Khi hàng trăm kiến nghị được đưa ra nhưng không có cơ chế theo dõi đến khi trở thành chính sách hoặc bị loại bỏ vì không phù hợp, xã hội lãng phí cơ hội cải cách.
Khi các bộ, ngành cùng nghiên cứu những chủ đề giao thoa nhưng không có nền tảng tích hợp kết quả, xã hội lãng phí nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và tham vấn.
Vì vậy, giá trị lớn nhất của chiến lược này không phải là tạo thêm một cơ quan mới hay thêm một thủ tục mới. Giá trị của nó là tạo ra một hệ thần kinh tri thức của quốc gia, kết nối những gì đang tồn tại nhưng còn phân tán. Khi mọi kết quả nghiên cứu, hội thảo, phản biện, mô hình thí điểm và bài học thực tiễn đều được tích hợp, kế thừa và chuyển hóa thành hành động, quốc gia sẽ giảm đáng kể chi phí học hỏi, rút ngắn thời gian xây dựng chính sách, tránh nghiên cứu trùng lặp và khai thác hiệu quả hơn nguồn lực trí tuệ của toàn xã hội.
KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA VỀ HUY ĐỘNG, QUẢN TRỊ VÀ CHUYỂN HÓA TRI THỨC XÃ HỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Từ những khoảng trống của hệ thống hiện nay, kiến nghị Chính phủ nghiên cứu xây dựng Chương trình quốc gia về huy động, quản trị và chuyển hóa tri thức xã hội, coi đây là một trong những chương trình trọng điểm triển khai Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đây không phải là một chương trình nhằm tổ chức thêm hội thảo, mà là chương trình xây dựng hạ tầng tri thức quốc gia, để mọi hoạt động huy động trí tuệ xã hội đều được tích lũy, kế thừa và chuyển hóa thành năng lực phát triển.
Trước hết, kiến nghị Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề án. Việc giao Bộ Khoa học và Công nghệ là phù hợp với chức năng quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, đây không phải là nhiệm vụ của riêng một bộ, mà phải được thiết kế như một chương trình liên ngành ở cấp quốc gia.
Để bảo đảm tính liên ngành, kiến nghị thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành hoặc Tổ công tác liên ngành về quản trị tri thức quốc gia do một Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách, với sự tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, các bộ quản lý chuyên ngành, cùng đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp. Vai trò của cơ chế này không phải là thay thế chức năng của các bộ, mà là điều phối những vấn đề liên ngành và thống nhất kiến trúc quản trị tri thức trên phạm vi toàn quốc.
Bước đầu tiên cần thực hiện là tổng rà soát hệ sinh thái huy động trí tuệ xã hội của Việt Nam. Cần đánh giá toàn diện số lượng hội thảo, diễn đàn, triển lãm, tọa đàm, hoạt động tham vấn chính sách, nghiên cứu khoa học và phản biện xã hội đang được tổ chức hằng năm; xác định quy mô nguồn lực đã huy động; đánh giá hiệu quả đầu ra; nhận diện các điểm trùng lặp, khoảng trống và những tồn tại trong cơ chế tích lũy tri thức. Đây sẽ là cơ sở khoa học để thiết kế chương trình thay vì xây dựng trên các nhận định cảm tính.
Trên cơ sở kết quả rà soát, cần xây dựng Kiến trúc quản trị tri thức quốc gia. Kiến trúc này phải quy định thống nhất toàn bộ vòng đời của tri thức, từ xác định bài toán chiến lược, huy động chuyên gia, tổ chức hội thảo, chuẩn hóa đầu ra, lưu trữ dữ liệu, phản biện, theo dõi việc tiếp thu, triển khai thí điểm, đánh giá tác động đến thể chế hóa và nhân rộng mô hình. Mỗi giai đoạn đều phải có cơ quan chịu trách nhiệm, tiêu chuẩn dữ liệu và chỉ số đánh giá rõ ràng.
Tiếp theo, cần xây dựng Danh mục các bài toán chiến lược quốc gia cần huy động trí tuệ xã hội. Đây sẽ là trung tâm của toàn bộ chương trình. Thay vì để mỗi cơ quan tổ chức hội thảo theo nhu cầu riêng, Chính phủ xác định các bài toán lớn cần giải quyết trong từng giai đoạn. Từ đó, các bộ, ngành và địa phương chủ động xây dựng chuỗi hội thảo, nghiên cứu, phản biện và thí điểm xoay quanh những bài toán này. Mọi hoạt động đều có mục tiêu chung, có dữ liệu dùng chung và có cơ chế kế thừa lẫn nhau.
Song song với đó, cần xây dựng Kho tri thức quốc gia trên nền tảng số. Đây không chỉ là hệ thống lưu trữ tài liệu mà là nền tảng tích hợp toàn bộ kết quả nghiên cứu, hội thảo, phản biện, mô hình thực tiễn và kiến nghị chính sách của quốc gia. Hệ thống phải hỗ trợ tìm kiếm theo chủ đề, liên kết nội dung, theo dõi tiến trình xử lý kiến nghị và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tổng hợp, phân tích và phát hiện khoảng trống tri thức.
Để tránh nghiên cứu trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư, kiến nghị ban hành quy định yêu cầu mọi hội thảo, diễn đàn và hoạt động tham vấn chính sách sử dụng ngân sách nhà nước hoặc phục vụ xây dựng chính sách phải chuẩn hóa đầu ra và cập nhật vào hệ thống tri thức quốc gia. Đồng thời, khi xây dựng đề án, chương trình hoặc tổ chức hội thảo mới, cơ quan chủ trì cần có trách nhiệm rà soát các kết quả nghiên cứu đã có để xác định rõ những nội dung kế thừa và những vấn đề mới cần tiếp tục làm rõ.
Để bảo đảm chương trình tạo ra giá trị thực chất, cần đổi mới cơ chế đánh giá. Không đánh giá thành công bằng số lượng hội thảo được tổ chức mà bằng khả năng giải quyết vấn đề. Các chỉ số cần tập trung vào tỷ lệ nghiên cứu được kế thừa, tỷ lệ kiến nghị được tiếp thu, số chính sách được hoàn thiện, số mô hình được thí điểm, mức độ giảm trùng lặp trong nghiên cứu, thời gian chuyển hóa từ ý tưởng đến chính sách và tác động thực tế đối với người dân, doanh nghiệp cũng như hiệu quả quản trị nhà nước.
Cuối cùng, kiến nghị xây dựng Chiến lược truyền thông quốc gia về tri thức và đổi mới sáng tạo. Mỗi bài toán chiến lược cần có một nền tảng thông tin công khai để toàn xã hội theo dõi tiến độ, biết những nội dung đang nghiên cứu, những vấn đề còn cần góp ý và những kết quả đã đạt được. Truyền thông không chỉ phản ánh hoạt động của hội thảo mà phải phản ánh toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và chuyển hóa tri thức thành chính sách và kết quả thực tiễn. Khi đó, người dân, doanh nghiệp, các nhà khoa học và các tổ chức xã hội sẽ không còn tham gia như những khách mời của từng sự kiện, mà trở thành những chủ thể đồng hành trong quá trình giải quyết các bài toán phát triển của đất nước.
Nếu được triển khai đồng bộ, chương trình này sẽ góp phần hình thành một hệ thống học tập quốc gia, nơi mọi tri thức đều được tích lũy, mọi kinh nghiệm đều được kế thừa, mọi sáng kiến đều được theo dõi đến khi tạo ra giá trị và mọi nguồn lực trí tuệ của xã hội được huy động hiệu quả hơn. Đây không chỉ là một chương trình về quản trị tri thức, mà còn là một giải pháp thể chế quan trọng nhằm chống lãng phí nguồn lực trí tuệ, nâng cao chất lượng xây dựng chính sách và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU TÂM, QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ GIÁ TRỊ MANG LẠI CỦA CHIẾN LƯỢC
Đây là một chiến lược có phạm vi rất lớn vì liên quan đến gần như toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia, từ các bộ, ngành, địa phương đến các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng chuyên gia. Chính vì vậy, nếu không được thiết kế đúng ngay từ đầu, chiến lược rất dễ tạo thêm thủ tục hành chính, tăng gánh nặng báo cáo hoặc hình thành một kho dữ liệu khổng lồ nhưng ít được sử dụng. Do đó, điều quan trọng nhất là phải quản trị tốt các rủi ro ngay trong quá trình thiết kế.
Rủi ro đầu tiên là biến hệ thống quản trị tri thức thành một cơ chế quản lý hành chính. Nếu mỗi hội thảo lại phải lập thêm nhiều biểu mẫu, báo cáo hoặc quy trình phê duyệt thì hệ thống sẽ làm tăng chi phí tổ chức và làm giảm động lực đổi mới sáng tạo. Vì vậy, nguyên tắc của chiến lược là không tạo thêm thủ tục, mà chuẩn hóa đầu ra. Những tài liệu vốn đã được tạo ra trong quá trình tổ chức hội thảo sẽ được chuyển đổi thành dữ liệu có cấu trúc bằng các nền tảng số và trí tuệ nhân tạo, thay vì yêu cầu các đơn vị phải làm thêm hồ sơ mới.
Rủi ro thứ hai là xây dựng một kho dữ liệu nhưng không hình thành được kho tri thức. Một hệ thống chỉ có giá trị khi thông tin được phân tích, liên kết và có khả năng phục vụ ra quyết định. Vì vậy, nền tảng này phải được thiết kế như một hệ thống tri thức sống, trong đó mọi tài liệu đều được gắn với bài toán chiến lược, với các nghiên cứu liên quan, với quá trình thực hiện chính sách và với kết quả thực tiễn. Giá trị của hệ thống không nằm ở số lượng tài liệu lưu trữ mà ở khả năng giúp người sử dụng nhanh chóng tìm được lời giải và tránh phải nghiên cứu lại từ đầu.
Rủi ro thứ ba là thiếu cơ chế điều phối liên ngành. Nếu mỗi bộ, ngành tiếp tục xây dựng một kho dữ liệu riêng thì sẽ lặp lại chính tình trạng phân mảnh đang tồn tại. Vì vậy, cần thống nhất một kiến trúc dữ liệu và một bộ tiêu chuẩn chung ở cấp quốc gia, đồng thời bảo đảm quyền chủ động của từng bộ, ngành trong việc quản lý dữ liệu chuyên ngành. Trung ương điều phối kiến trúc, còn các bộ quản lý nội dung thuộc phạm vi chức năng của mình.
Rủi ro thứ tư là không xác định rõ bài toán cần giải quyết. Nếu mọi hội thảo đều được đưa vào hệ thống nhưng không gắn với các mục tiêu chiến lược thì lượng dữ liệu sẽ tăng rất nhanh nhưng giá trị sử dụng lại rất thấp. Vì vậy, mọi hoạt động huy động trí tuệ cần được định vị trong một hoặc nhiều bài toán chiến lược quốc gia đã được xác định từ đầu. Mỗi kết quả nghiên cứu đều phải trả lời câu hỏi: nó đang góp phần giải quyết vấn đề gì, phục vụ chính sách nào và tạo ra giá trị gì.
Rủi ro thứ năm là chưa tạo được động lực để các chủ thể cùng tham gia. Các chuyên gia, doanh nghiệp và trường đại học sẽ chỉ tham gia tích cực khi họ nhìn thấy giá trị thực tiễn của đóng góp. Do đó, cần xây dựng cơ chế ghi nhận đóng góp, theo dõi quá trình tiếp thu, công khai kết quả xử lý kiến nghị và tạo điều kiện để các ý tưởng tốt được thử nghiệm, triển khai và nhân rộng.
Nếu được triển khai đúng hướng, đây sẽ là một trong những giải pháp chống lãng phí có hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực quản trị công.
Thứ nhất, chiến lược giúp tiết kiệm nguồn lực nghiên cứu. Các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ biết những nội dung nào đã được nghiên cứu, kết quả đến đâu và còn khoảng trống nào cần tiếp tục. Điều này làm giảm đáng kể tình trạng nghiên cứu trùng lặp, hội thảo trùng chủ đề và các báo cáo lặp lại nội dung đã có.
Thứ hai, chiến lược giúp tiết kiệm thời gian xây dựng chính sách. Khi toàn bộ bằng chứng, dữ liệu, phản biện và kinh nghiệm thực tiễn đã được tích hợp, cơ quan soạn thảo không phải bắt đầu từ con số không. Thời gian tìm kiếm thông tin, tổng hợp ý kiến và đánh giá tác động sẽ được rút ngắn đáng kể.
Thứ ba, chiến lược giúp tiết kiệm chi phí học hỏi của toàn xã hội. Một địa phương không phải thử lại mô hình mà địa phương khác đã triển khai thành công hoặc thất bại. Doanh nghiệp không phải lặp lại những nghiên cứu đã có. Trường đại học có thể tiếp tục phát triển các kết quả nghiên cứu trước thay vì khởi động lại toàn bộ quá trình.
Thứ tư, chiến lược giúp tiết kiệm nguồn lực tổ chức. Các hội thảo sẽ không còn bị tổ chức dàn trải theo từng đơn vị mà được thiết kế thành các chuỗi liên tục phục vụ một mục tiêu chiến lược. Kinh phí, thời gian và nguồn lực chuyên gia sẽ được tập trung hơn, tạo ra kết quả có chiều sâu thay vì phân tán.
Thứ năm, chiến lược giúp tiết kiệm nguồn lực trí tuệ. Đây là giá trị lớn nhất. Mỗi giờ làm việc của chuyên gia, mỗi bài tham luận, mỗi phản biện và mỗi kinh nghiệm thực tiễn đều được lưu giữ, kế thừa và tiếp tục phát triển. Tri thức không còn mất đi sau mỗi hội thảo mà trở thành tài sản tích lũy của quốc gia.
Lợi ích của chiến lược sẽ lan tỏa đến nhiều chủ thể.
Đối với Chính phủ và các bộ, ngành, đây là công cụ nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, tăng khả năng phối hợp liên ngành và rút ngắn chu trình từ nghiên cứu đến thực thi.
Đối với địa phương, đây là hệ thống giúp tiếp cận nhanh các mô hình tốt, các bài học thành công và thất bại, từ đó giảm chi phí thử nghiệm và tăng hiệu quả quản lý.
Đối với các trường đại học và viện nghiên cứu, đây là môi trường để các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở công bố khoa học mà tiếp tục được chuyển hóa thành chính sách, tiêu chuẩn, giải pháp công nghệ và mô hình phát triển.
Đối với doanh nghiệp, đây là kênh tiếp cận trực tiếp với nhu cầu đổi mới của Nhà nước, giúp định hướng nghiên cứu, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường cho các giải pháp công nghệ, tư vấn và dịch vụ tri thức.
Đối với các chuyên gia, đây là cơ chế để mỗi ý tưởng được theo dõi, phản biện và phát triển đến cùng, thay vì chỉ dừng lại trong một bài tham luận hay một phiên thảo luận.
Đối với người dân, giá trị cuối cùng là một bộ máy nhà nước học hỏi nhanh hơn, ra quyết định dựa trên bằng chứng tốt hơn, chính sách được xây dựng sát thực tiễn hơn và nguồn lực công được sử dụng hiệu quả hơn.
Xa hơn, chiến lược này sẽ góp phần hình thành "trí nhớ thể chế" của quốc gia. Mọi bài học, mọi kinh nghiệm, mọi sáng kiến và mọi kết quả nghiên cứu sẽ không còn phụ thuộc vào một nhiệm kỳ, một cơ quan hay một nhóm chuyên gia cụ thể, mà trở thành tài sản chung được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi đó, mỗi thế hệ không phải bắt đầu lại từ đầu, mà được đứng trên nền tảng tri thức mà các thế hệ trước đã xây dựng. Đây chính là nền tảng của một quốc gia học tập, một Nhà nước học tập và một nền quản trị hiện đại dựa trên tri thức.
Muốn chiến lược này thực sự tạo ra sự thay đổi thì điều quan trọng nhất không phải là xây dựng thêm một nền tảng số hay tổ chức nhiều hội thảo hơn, mà là thiết kế lại toàn bộ cơ chế vận hành của hệ thống huy động trí tuệ xã hội. Mục tiêu của chiến lược là biến hàng nghìn hội thảo, diễn đàn, triển lãm, hoạt động nghiên cứu và phản biện vốn đang tồn tại độc lập thành một hệ thống thống nhất, có khả năng học hỏi, tích lũy và tự phát triển qua thời gian. Khi đó, mỗi hoạt động không còn là một sự kiện riêng lẻ mà trở thành một mắt xích trong chuỗi tạo ra giá trị công.
Điểm đổi mới căn bản của chiến lược là chuyển từ tư duy tổ chức hội thảo sang tư duy tổ chức giải quyết các bài toán chiến lược quốc gia. Điều này có nghĩa là trước khi xây dựng kế hoạch tổ chức bất kỳ hội thảo nào, cơ quan chủ trì phải xác định rõ hội thảo đó đang tham gia giải quyết nhiệm vụ chiến lược nào của đất nước. Đó có thể là phát triển công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế, phát triển đô thị hay bất kỳ mục tiêu lớn nào đã được Chính phủ xác định. Khi mọi hoạt động cùng hướng tới một mục tiêu chung thì tri thức sẽ tự nhiên hội tụ, thay vì tiếp tục bị phân tán theo từng cơ quan, từng ngành và từng sự kiện như hiện nay.
Trong mô hình này, mỗi hội thảo chỉ là một giai đoạn của cả một quá trình dài. Có hội thảo làm nhiệm vụ xác định vấn đề, có hội thảo bổ sung bằng chứng khoa học, có hội thảo tập trung phản biện, có hội thảo lựa chọn giải pháp, có hội thảo đánh giá kết quả thí điểm và có hội thảo tổng kết để hoàn thiện chính sách. Hội thảo sau không bắt đầu lại từ đầu mà kế thừa toàn bộ kết quả của hội thảo trước. Mỗi cuộc thảo luận đều có vị trí xác định trong một lộ trình tổng thể đã được thiết kế từ đầu. Chính tính kế thừa này sẽ chấm dứt tình trạng nhiều hội thảo lặp lại cùng một nội dung nhưng không tạo ra thêm giá trị.
Để làm được điều đó, toàn bộ kết quả của mỗi hội thảo cần được chuẩn hóa và tích hợp vào một hệ thống tri thức thống nhất. Điều được lưu giữ không chỉ là biên bản, bài tham luận hay video ghi hình, mà quan trọng hơn là các luận điểm cốt lõi, bằng chứng khoa học, các ý kiến còn khác biệt, các kiến nghị được thống nhất, những vấn đề còn bỏ ngỏ và các nhiệm vụ cần tiếp tục nghiên cứu. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tự động tổng hợp, phân loại và liên kết những nội dung này với các nghiên cứu trước đó, giúp cho bất kỳ ai khi bắt đầu một nghiên cứu hoặc tổ chức một hội thảo mới đều biết hệ thống đã đi đến đâu và khoảng trống nào còn cần tiếp tục giải quyết.
Song song với đó, cần xây dựng bản đồ tri thức đối với từng chương trình chiến lược. Bản đồ này phản ánh toàn bộ quá trình phát triển của một lĩnh vực, từ những vấn đề đã được nghiên cứu, những khoảng trống còn tồn tại, các nhóm chuyên gia đang tham gia, những mô hình đang được thí điểm cho đến các chính sách đang được xây dựng. Nhờ đó, mỗi cơ quan, mỗi doanh nghiệp hay mỗi nhà khoa học đều có thể xác định chính xác vị trí đóng góp của mình trong bức tranh tổng thể, thay vì làm việc trong những không gian tri thức tách biệt.
Một trong những nội dung cần đổi mới mạnh mẽ nhất là cơ chế đánh giá chất lượng hội thảo. Trong nhiều năm qua, việc đánh giá chủ yếu dựa trên quy mô tổ chức, số lượng đại biểu tham dự, số lượng bài tham luận hoặc mức độ truyền thông. Những tiêu chí này phản ánh mức độ tổ chức sự kiện nhưng chưa phản ánh giá trị thực sự mà hội thảo tạo ra. Trong chiến lược mới, chất lượng của một hội thảo phải được đo bằng khả năng đóng góp vào việc giải quyết các bài toán chiến lược. Một hội thảo có giá trị là hội thảo tạo ra được tri thức mới, làm sáng tỏ những vấn đề còn tranh luận, hình thành được các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo, thúc đẩy hoàn thiện chính sách hoặc tạo ra những mô hình có thể triển khai trong thực tiễn. Giá trị của hội thảo vì vậy không nằm ở thời điểm diễn ra, mà nằm ở những tác động mà nó tiếp tục tạo ra trong nhiều năm sau đó.
Chiến lược cũng cần xây dựng một cơ chế ghi nhận và công nhận đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Hiện nay, rất nhiều ý tưởng có giá trị được trình bày trong các hội thảo nhưng sau đó không còn được theo dõi. Người đề xuất cũng không biết kiến nghị của mình đã được nghiên cứu đến đâu, có được tiếp thu hay không và tạo ra tác động gì. Điều này làm giảm động lực tham gia phản biện chính sách. Vì vậy, mỗi sáng kiến cần được theo dõi xuyên suốt vòng đời của nó, từ khi hình thành, phản biện, hoàn thiện, thí điểm cho đến khi được thể chế hóa hoặc kết thúc vì không còn phù hợp. Giá trị đóng góp của mỗi cá nhân và tổ chức cần được ghi nhận trên cơ sở tác động thực tế mà ý tưởng đó mang lại, thay vì chỉ dựa trên số lượng bài phát biểu hay số lần tham gia hội thảo.
Cùng với cơ chế công nhận là cơ chế khen thưởng mới. Khen thưởng không nên hướng vào những đơn vị tổ chức nhiều hội thảo nhất, mà hướng vào những đơn vị tạo ra giá trị lớn nhất cho đất nước. Một nghiên cứu giúp hoàn thiện một chính sách quan trọng, một mô hình được nhiều địa phương áp dụng, một sáng kiến giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước hoặc một giải pháp làm giảm đáng kể thời gian xử lý thủ tục hành chính đều cần được xem là những kết quả xứng đáng được ghi nhận. Khi hệ thống đánh giá chuyển từ số lượng hoạt động sang giá trị tạo ra, toàn bộ thị trường tri thức sẽ thay đổi theo hướng chú trọng chất lượng, chiều sâu và hiệu quả thực tiễn.
Bên cạnh đó, cần hình thành một hệ thống đánh giá tác động của tri thức ở quy mô quốc gia. Hệ thống này không nhằm xếp hạng hình thức mà nhằm phản ánh mức độ chuyển hóa tri thức thành giá trị thực tế. Thông qua các chỉ số về mức độ kế thừa nghiên cứu, tỷ lệ kiến nghị được tiếp thu, số chính sách được hoàn thiện, số mô hình được triển khai, mức độ giảm trùng lặp trong nghiên cứu hay giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra, Nhà nước có thể đánh giá chính xác hiệu quả của từng chương trình huy động trí tuệ và điều chỉnh chính sách đầu tư cho phù hợp.
Truyền thông cũng cần được thay đổi một cách căn bản. Thay vì chỉ tập trung đưa tin về một hội thảo hay một diễn đàn, truyền thông cần đồng hành với toàn bộ hành trình giải quyết một bài toán chiến lược. Xã hội cần biết đất nước đang tập trung giải quyết những vấn đề gì, quá trình nghiên cứu đang ở giai đoạn nào, còn những khoảng trống nào cần tiếp tục đóng góp, những giải pháp nào đang được thử nghiệm và những kết quả nào đã được chuyển hóa thành chính sách hoặc mô hình phát triển. Khi đó, truyền thông không chỉ có vai trò lan tỏa thông tin mà còn trở thành một công cụ điều phối tri thức, kết nối các chuyên gia, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và người dân vào cùng một quá trình học tập và đổi mới sáng tạo.
Nếu được triển khai đồng bộ, chiến lược này sẽ từng bước hình thành một thị trường tri thức đúng nghĩa, trong đó tri thức được tạo ra, phản biện, kiểm chứng, tích lũy, kế thừa và tiếp tục phát triển qua nhiều thế hệ. Mỗi hội thảo sẽ không còn là điểm kết thúc của một cuộc gặp gỡ, mà trở thành một công đoạn trong chuỗi tạo ra giá trị. Mỗi ý tưởng sẽ không còn dừng lại ở một bài tham luận, mà tiếp tục được theo dõi cho đến khi trở thành chính sách, công nghệ, mô hình quản trị hoặc giải pháp phát triển. Đó cũng là cách để nguồn lực trí tuệ của quốc gia không còn bị tiêu hao sau mỗi sự kiện, mà được tích lũy thành năng lực cạnh tranh lâu dài, góp phần xây dựng một Nhà nước học tập, một nền kinh tế học tập và một xã hội học tập trong kỷ nguyên phát triển dựa trên tri thức.